Sunday, July 14, 2013

Bài học, Chủ Nhật 14-7-2013

Phật Pháp Vấn Đáp qua Kinh Milindapanha

Giảng Sư: TT Giác Đẳng


Milinda Vn Đo

Câu hỏi của Vua Milinda
III. PHẨM SỞ HỮU TỨ

Tỳ khưu Nguyệt Thiên dịch

MỘT GIÁC QUAN KHÔNG THỂ BIẾT TẤT CẢ CẢNH

6. Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, có phải sự hiểu biết có thể đạt được?”

“Tâu đại vương, sự hiểu biết ấy là cái gì?” 

“Thưa ngài, sự sống bên trong nhìn thấy cảnh sắc bằng mắt, nghe âm thanh bằng tai, ngửi mùi bằng mũi, nếm vị bằng lưỡi, chạm cảnh xúc bằng thân, nhận thức cảnh pháp bằng ý, giống như chúng ta ngồi ở đây, trong tòa lâu đài, muốn nhìn bằng cửa sổ nào thì có thể nhìn bằng cửa sổ ấy, chúng ta có thể nhìn bằng cửa sổ hướng đông, chúng ta cũng có thể nhìn bằng cửa sổ hướng tây, chúng ta cũng có thể nhìn bằng cửa sổ hướng bắc, chúng ta cũng có thể nhìn bằng cửa sổ hướng nam. Bạch ngài, tương tợ y như thế sự sống bên trong này muốn nhìn bằng cửa lớn nào thì nhìn bằng cửa lớn ấy.” 

Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, tôi sẽ nói về năm cửa lớn (ngũ môn, năm giác quan). Đại vương hãy lắng nghe điều ấy, đại vương hãy khéo chú ý. Nếu sự sống bên trong nhìn thấy cảnh sắc bằng mắt, giống như chúng ta ngồi ở đây, trong tòa lâu đài, muốn nhìn bằng cửa sổ nào thì có thể nhìn cảnh sắc bằng cửa sổ ấy, chúng ta có thể nhìn cảnh sắc bằng cửa sổ hướng đông, chúng ta cũng có thể nhìn cảnh sắc bằng cửa sổ hướng tây, chúng ta cũng có thể nhìn cảnh sắc bằng cửa sổ hướng bắc, chúng ta cũng có thể nhìn cảnh sắc bằng cửa sổ hướng nam. Như vậy, với sự sống bên trong này, cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng mắt, phải chăng cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng tai, cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng mũi, cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng lưỡi, cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng thân, cảnh sắc có thể được nhìn thấy bằng ý; phải chăng âm thanh có thể được nghe bằng mắt, âm thanh có thể được nghe bằng mũi, âm thanh có thể được nghe bằng lưỡi, âm thanh có thể được nghe bằng thân, âm thanh có thể được nghe bằng ý; phải chăng mùi có thể được ngửi bằng mắt, mùi có thể được ngửi bằng tai, mùi có thể được ngửi bằng lưỡi, mùi có thể được ngửi bằng thân, mùi có thể được ngửi bằng ý; phải chăng vị có thể được nếm bằng mắt, vị có thể được nếm bằng tai, vị có thể được nếm bằng mũi, vị có thể được nếm bằng thân, vị có thể được nếm bằng ý; phải chăng cảnh xúc có thể được chạm bằng mắt, cảnh xúc có thể được chạm bằng tai, cảnh xúc có thể được chạm bằng mũi, cảnh xúc có thể được chạm bằng lưỡi, cảnh xúc có thể được chạm bằng ý; phải chăng cảnh pháp có thể được nhận biết bằng mắt, cảnh pháp có thể được nhận biết bằng tai, cảnh pháp có thể được nhận biết bằng mũi, cảnh pháp có thể được nhận biết bằng lưỡi, cảnh pháp có thể được nhận biết bằng thân?” 

“Thưa ngài, không đúng.” 

“Tâu đại vương, quả là đại vương không liên kết điều sau với điều trước, hoặc điều trước với điều sau. Tâu đại vương, hoặc là giống như chúng ta ngồi ở đây, trong tòa lâu đài nhìn thấy rõ rệt hơn cảnh sắc ở bên ngoài trước mặt qua bầu không gian bao la khi hệ thống các cửa sổ này được mở rộng, như vậy sự sống bên trong này có thể nhìn thấy cảnh sắc rõ rệt hơn cảnh sắc ở bên ngoài trước mặt qua bầu không gian bao la khi các nhãn môn này được mở rộng. Phải chăng có thể nghe âm thanh, có thể ngửi mùi, có thể nếm vị, có thể chạm rõ rệt hơn cảnh xúc ở bên ngoài trước mặt qua bầu không gian bao la khi các tai được mở rộng, khi mũi được mở rộng, khi lưỡi được mở rộng, khi thân được mở rộng?” 

“Thưa ngài, không đúng.” 

“Tâu đại vương, quả là đại vương không liên kết điều sau với điều trước, hoặc điều trước với điều sau. Tâu đại vương, hoặc là giống như vị Dinna này đi ra bên ngoài rồi đứng ở cổng bên ngoài cửa lớn, tâu đại vương, phải chăng đại vương biết vị Dinna này đã đi ra bên ngoài rồi đứng ở cổng bên ngoài cửa lớn?” 

“Thưa ngài, đúng vậy. Trẫm biết.” 

“Tâu đại vương, hoặc là giống như vị Dinna này đi vào bên trong rồi đứng phía trước đại vương, tâu đại vương, phải chăng đại vương biết vị Dinna này đã đi vào bên trong rồi đứng phía trước đại vương?” 

“Thưa ngài, đúng vậy. Trẫm biết.” 

“Tâu đại vương, tương tợ y như thế khi vị nếm được đặt ở lưỡi, phải chăng sự sống bên trong này có thể biết được vị chua, hoặc vị mặn, hoặc vị đắng, hoặc vị cay, hoặc vị chát, hoặc vị ngọt?” 

“Thưa ngài, đúng vậy. Có thể biết.” 

“Khi các vị nếm ấy đã đi vào bên trong (cổ họng), phải chăng có thể biết được vị chua, hoặc vị mặn, hoặc vị đắng, hoặc vị cay, hoặc vị chát, hoặc vị ngọt?” 

“Thưa ngài, không đúng.” 

“Tâu đại vương, quả là đại vương không liên kết điều sau với điều trước, hoặc điều trước với điều sau. Tâu đại vương, ví như người nào đó bảo mang lại một trăm hũ mật ong, bảo đổ đầy máng mật ong, rồi bít kín miệng của một người đàn ông và đặt vào ở máng mật ong. Tâu đại vương, người đàn ông ấy có thể biết được có mật ong hay không có?” 

“Thưa ngài, không thể.” 

“Vì lý do gì?” 

“Thưa ngài, bởi vì mật ong đã không đi vào miệng của người ấy.” 

“Tâu đại vương, quả là đại vương không liên kết điều sau với điều trước, hoặc điều trước với điều sau. 

“Thưa ngài, trẫm không có khả năng để trò chuyện với nhà diễn thuyết như ngài. Thưa ngài, lành thay xin ngài nói về ý nghĩa.” 

Vị trưởng lão đã giúp cho đức vua Milinda hiểu được bằng sự thuyết giảng liên quan đến Vi Diệu Pháp: “Tâu đại vương, trong trường hợp này, tùy thuận vào mắt và các cảnh sắc mà nhãn thức sanh lên, như vậy các pháp này sanh lên do duyên. Xúc, thọ, tưởng, tư, nhất hành, mạng quyền, tác ý là đồng sanh với nó. Bởi vì ở đây sự hiểu biết có thể đạt được là không đúng. Tùy thuận vào tai và các cảnh thinh —(như trên)— Tùy thuận vào ý và các cảnh pháp mà ý thức sanh lên. Xúc, thọ, tưởng, tư, nhất hành, mạng quyền, tác ý là đồng sanh với nó, như vậy các pháp này sanh lên do duyên. Bởi vì ở đây sự hiểu biết có thể đạt được là không đúng.” 

“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.” 

II. Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hợp.
1. Ý thức biết được tất cả các cảnh hay không, hay mỗi ý thức biết được một cảnh riêng biệt? - TT Tuệ Siêu 
2. Biết một bức tranh đẹp có giá trị thì cái biết nào của nhãn thức  và cái biết nào của ý thức? - TT Tuệ Siêu
3. Tại sao người Phật tử nên thấy rõ sự khác biệt gữa quan niệm về linh hồn và tâm thức? - TT Pháp Đăng
4. Những đơn vị cực vi của tâm thức đưọc gọi là sát na tâm phải chăng được nhận biết bằng thời gian tồn tại? - TT Tuệ Siêu
5. Trong kinh Mi Tiên Vấn Đạo có nhiều câu hỏi làm thí dụ thì những thí dụ này có quan trọng trong Phật Pháp nói chung và quan trọng trong A Tỳ Đàm như thế nào? - TT Pháp Tân





Saturday, July 13, 2013

Bài học, Thứ Bảy 13-7-2013

Phật Pháp Vấn Đáp qua Kinh Milindapanha

Giảng Sư: TT Giác Đẳng


Milinda Vn Đo

Câu hỏi của Vua Milinda
III. PHẨM SỞ HỮU TỨ

Tỳ khưu Nguyệt Thiên dịch

KHÔNG CÓ PHÁP HỮU VI KHÔNG DO DUYÊN SANH

5. Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, phải chăng có các pháp hữu vi nào đó chưa từng hiện hữu mà được sanh ra?” 

“Tâu đại vương, không có các pháp hữu vi nào đó chưa từng hiện hữu mà được sanh ra cả. Tâu đại vương, chính các pháp hữu vi từng hiện hữu mà được sanh ra.” 

“Xin ngài cho ví dụ.” 

“Tâu đại vương, đại vương nghĩ gì về điều này? Phải chăng cái nhà này, nơi mà đại vương đang ngồi, là chưa từng hiện hữu mà được sanh ra?” 

“Thưa ngài, không có cái gì ở đây là chưa từng hiện hữu mà đã được sanh ra, chính vật từng hiện hữu là đã được sanh ra. Thưa ngài, những cây gỗ này quả đã có ở trong rừng. Và đất sét này đã có ở trong đất. Và do sự ra sức đúng đắn của những người đàn bà và đàn ông mà cái nhà này đã được hình thành như vầy.” 

“Tâu đại vương, tương tợ y như thế không có các pháp hữu vi nào đó chưa từng hiện hữu mà được sanh ra cả, chính các pháp hữu vi từng hiện hữu mà được sanh ra.” 

“Xin ngài cho thêm ví dụ.” 

“Tâu đại vương, giống như các hạt giống và loài thảo mộc nào đó được đặt ở đất, dần dần đạt được sự phát triển, tăng trưởng, lớn mạnh, rồi cho trái; các cây ấy không phải là chưa từng hiện hữu mà đã được sanh ra, chính các cây ấy từng hiện hữu mà đã được sanh ra. Tâu đại vương, tương tợ y như thế không có các pháp hữu vi nào đó chưa từng hiện hữu mà được sanh ra cả, chính các pháp hữu vi từng hiện hữu mà được sanh ra.” 

“Xin ngài cho thêm ví dụ.” 

“Tâu đại vương, giống như người thợ gốm lấy lên đất sét từ đất rồi làm ra nhiều loại thau chậu, các thau chậu ấy không phải là chưa từng hiện hữu mà đã được sanh ra, chính các vật ấy từng hiện hữu mà đã được sanh ra. Tâu đại vương, tương tợ y như thế không có các pháp hữu vi nào đó chưa từng hiện hữu mà được sanh ra cả, chính các pháp hữu vi từng hiện hữu mà được sanh ra.” 

“Xin ngài cho thêm ví dụ.” 

“Tâu đại vương, giống như đối với cây đàn vīṇā, nếu không có khung đàn, nếu không có da bọc, nếu không có bầu đàn, nếu không có cần đàn, nếu không có cổ đàn, nếu không có dây đàn, nếu không có phím đàn, và nếu không có sự ra sức đúng đắn của con người, thì âm thanh có thể phát ra không?” 

“Thưa ngài, không có.” 

“Tâu đại vương, bởi vì đối với cây đàn vīṇā, nếu có khung đàn, nếu có da bọc, nếu có bầu đàn, nếu có cần đàn, nếu có cổ đàn, nếu có dây đàn, nếu có phím đàn, và nếu có sự ra sức đúng đắn của con người, thì âm thanh có thể phát ra không?” 

“Thưa ngài, đúng vậy. Có thể phát ra.” 

“Tâu đại vương, tương tợ y như thế không có các pháp hữu vi nào đó chưa từng hiện hữu mà được sanh ra cả, chính các pháp hữu vi từng hiện hữu mà được sanh ra.” 

“Xin ngài cho thêm ví dụ.” 

“Tâu đại vương, giống như nếu không có vật tạo lửa, nếu không có trục xoay, nếu không có dây kéo, nếu không có thanh gỗ ở trên, nếu không có giẻ bùi nhùi, và nếu không có sự ra sức đúng đắn của con người, thì ngọn lửa ấy có thể sanh ra không?” 

“Thưa ngài, không có.” 

“Tâu đại vương, bởi vì nếu có vật tạo lửa, nếu có trục xoay, nếu có dây kéo, nếu có thanh gỗ ở trên, nếu có giẻ bùi nhùi, và nếu có sự ra sức đúng đắn của con người, thì ngọn lửa ấy có thể sanh ra không?” 

“Thưa ngài, đúng vậy. Có thể sanh ra.” 

“Tâu đại vương, tương tợ y như thế không có các pháp hữu vi nào đó chưa từng hiện hữu mà được sanh ra cả, chính các pháp hữu vi từng hiện hữu mà được sanh ra.” 

“Xin ngài cho thêm ví dụ.” 

“Tâu đại vương, giống như nếu không có ngọc ma-ni, nếu không có tia nắng, nếu không có phân bò thì ngọn lửa ấy có thể sanh ra không?” 

“Thưa ngài, không có.” 

“Tâu đại vương, bởi vì nếu có ngọc ma-ni, nếu có tia nắng, nếu có phân bò thì ngọn lửa ấy có thể sanh ra không?” 

“Thưa ngài, đúng vậy. Có thể sanh ra.” 

“Tâu đại vương, tương tợ y như thế không có các pháp hữu vi nào đó chưa từng hiện hữu mà được sanh ra cả, chính các pháp hữu vi từng hiện hữu mà được sanh ra.” 

“Xin ngài cho thêm ví dụ.” 

“Tâu đại vương, giống như nếu không có tấm gương, nếu không có ánh sáng, nếu không có khuôn mặt thì hình người có thể sanh ra không?” 

“Thưa ngài, không có.” 

“Tâu đại vương, bởi vì nếu có tấm gương, nếu có ánh sáng, nếu có khuôn mặt thì hình người có thể sanh ra không?” 

“Thưa ngài, đúng vậy. Có thể sanh ra.” 

“Tâu đại vương, tương tợ y như thế không có các pháp hữu vi nào đó chưa từng hiện hữu mà được sanh ra cả, chính các pháp hữu vi từng hiện hữu mà được sanh ra.” 

“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.” 


II. Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hợp.
1. Các pháp hữu vi sanh khởi do duyên, do nghiệp. Phải chăng theo Phật Pháp ý nghĩa chữ "Duyên" rộng hơn chữ  "Nghiệp"  - TT Tuệ Siêu
2. Phải chăng khi nói các pháp do duyên mà sanh thì không hẳn nói về nhân duyên quá khứ?- TT Tuệ Siêu
 3. Bài học hôm nay liên hệ tới giáo lý vô ngã thế nào? - TT Pháp Đăng
 4. Phải chăng theo Phật pháp thì không có gì gọi là ngẫu nhiên? - ĐĐ Pháp Tín
5. Tại sao sự nhận thức “ các pháp nào duyên mà sanh cũng do duyên mà diệt” vô cùng quan trọng trong sự tu chứng? - ĐĐ Pháp Tín






Friday, July 12, 2013

Bài học, Thứ Sáu 12-7-2013

Phật Pháp Vấn Đáp qua Kinh Milindapanha

Giảng Sư: ĐĐ Pháp Tín


Milinda Vn Đo

Câu hỏi của Vua Milinda
III. PHẨM SỞ HỮU TỨ

Tỳ khưu Nguyệt Thiên dịch

HỮU VI LÀ PHÁP CẤU SANH

4. Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, phải chăng có các pháp hữu vi nào đó được sanh lên?” 

“Tâu đại vương, đúng vậy. Có các pháp hữu vi được sanh lên.” 

“Thưa ngài, chúng là những cái nào?” 

“Tâu đại vương, khi có mắt và các cảnh sắc thì có nhãn thức; khi có nhãn thức thì có nhãn xúc; khi có nhãn xúc thì có thọ; khi có thọ thì có ái; khi có ái thì có thủ; khi có thủ thì có hữu; khi có hữu thì có sanh; từ sự sanh, lão, tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như thế là sự sanh lên của toàn bộ khổ uẩn này. Tâu đại vương, khi không có mắt và không có các cảnh sắc thì không có nhãn thức, khi không có nhãn thức thì không có nhãn xúc, khi không có nhãn xúc thì không có thọ, khi không có thọ thì không có ái, khi không có ái thì không có thủ, khi không có thủ thì không có hữu, khi không có hữu thì không có sanh, khi không có sanh thì không có lão, tử, sầu, bi, khổ, ưu, não. Như thế là sự diệt tận của toàn bộ khổ uẩn này.” 

“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.” 

II. Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hợp.
1. Khi nhận thức chữ pháp hữu vi vừa là năng duyên, vừa  là sở duyên thì ảnh hưởng tâm lý thế nào? - TT Tuệ Quyền
2 : Có pháp hữu vi nào chỉ trợ tạo mà không bị tạo chăng? - TT Tuệ Siêu
3. Phải chăng pháp hữu vi không thể đứng yên mà không tác động các pháp sanh khởi?  TT Tuệ Siêu 
4. Có phải tất cả mọi người sống trên đời này thì đều có thọ ân và thi ân? Có ai mà chỉ thi ân mà không thọ ân không? - TT Tuệ Siêu
5. Chúng ta là người hiểu đạo thì chúng ta vừa là năng duyên vừa là sở duyên, có đúng như vậy không? - TT Tuệ Quyền
6. Trong giáo lý Duyên Khởi pháp nào được xem là diệt được và pháp nào chúng ta phải xuôi theo? - TT Pháp Đăng
7. Chúng ta sống mà nghĩ rằng cái nào sanh rồi cũng diệt, cái sanh cái diệt liên đới nhau. Thì điều đó có ảnh hưởng đến cuộc sống chúng ta không? - ĐĐ Pháp Tín











Thursday, July 11, 2013

Bài học, Thứ Năm 11-7-2013

Phật Pháp Vấn Đáp qua Kinh Milindapanha

Giảng Sư: TT Pháp Tân


Milinda Vn Đo

Câu hỏi của Vua Milinda
III. PHẨM SỞ HỮU TỨ

Tỳ khưu Nguyệt Thiên dịch

TRƯỚC CÁI SANH VA SAU CÁI DIỆT

3. Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài đã nói là ‘điểm mốc đầu tiên không được nhận biết,’ và điểm mốc đầu tiên ấy là cái nào?” 

“Tâu đại vương, cái nào là hành trình quá khứ, cái ấy là điểm mốc đầu tiên.” 

“Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài đã nói là ‘điểm mốc đầu tiên không được nhận biết,’ thưa ngài, phải chăng hết thảy tất cả điểm mốc đầu tiên đều không được nhận biết?” 

“Tâu đại vương, có điểm mốc được nhận biết, có điểm mốc không được nhận biết.” 

“Thưa ngài, điểm mốc nào được nhận biết, điểm mốc nào không được nhận biết?” 

“Tâu đại vương, từ đây trở về trước, với mọi hình thức, bằng mọi cách, vô minh đã không hiện hữu, điểm mốc đầu tiên ấy không được nhận biết. Còn (hành trình) nào từ không hiện hữu rồi được hình thành, sau khi hiện hữu rồi phân tán, thì điểm mốc đầu tiên ấy được nhận biết.” 

“Thưa ngài Nāgasena, hành trình nào từ không hiện hữu rồi được hình thành, sau khi hiện hữu rồi phân tán, chẳng lẽ nó được cắt ở hai đầu thì biến mất?” 

“Tâu đại vương, nếu (hành trình) được cắt ở hai đầu thì biến mất, có phải (điểm mốc) được cắt ở hai đầu thì có thể tăng trưởng?” 

“Đúng vậy, nó cũng có thể tăng trưởng.” 

“Thưa ngài, trẫm không hỏi điều này, phải chăng có thể tăng trưởng từ điểm mốc?”

“Đúng vậy, có thể tăng trưởng.” 

“Xin ngài cho ví dụ.” 

Vị trưởng lão đã làm ví dụ về cái cây cho đức vua (rồi kết luận): “Và các uẩn là các mầm mống của toàn bộ khổ uẩn.”[3] 

“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”


II. Thảo Luận: Chư Tăng điều hợp.
1. Trong xã hội ngày hôm nay có những người có thể đọc được quá khứ của người khác, thì như vậy trong kinh điển Phật Giáo có chấp nhận những quan điểm đó không? - TT Tuệ Quyền
2. Trong Phật giáo có chấp nhận trường hợp gọi hồn không? - ĐĐ Pháp Tín
3. Tại sao chúng ta không thấy được tiền kiếp của mình? TT Tuệ Quyền


Wednesday, July 10, 2013

Bài học, Thứ Tư 10-7-2013

Phật Pháp Vấn Đáp qua Kinh Milindapanha

Giảng Sư: TT Pháp Đăng


Milinda Vn Đo

Câu hỏi của Vua Milinda
III. PHẨM SỞ HỮU TỨ

Tỳ khưu Nguyệt Thiên dịch

TIỀN TIỀN VÔ THỈ

 2. Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài đã nói là ‘điểm mốc đầu tiên không được nhận biết,’ xin ngài cho ví dụ.” 

“Tâu đại vương, giống như một người đặt xuống hạt giống nhỏ ở đất, từ đó mầm cây mọc lên, dần dần đạt được sự phát triển, tăng trưởng, lớn mạnh, rồi cho trái. Cũng từ đó, sau khi lấy hạt giống rồi lại gieo trồng, cũng từ đó mầm cây mọc lên, dần dần đạt được sự phát triển, tăng trưởng, lớn mạnh, rồi cho trái. Như vậy, phải chăng có điểm chấm dứt của tiến trình này?” 

“Thưa ngài, không có.” 

“Tâu đại vương, tương tợ y như thế thậm chí điểm mốc đầu tiên của hành trình này không được nhận biết.” 

“Xin ngài cho thêm ví dụ.” 

“Tâu đại vương, giống như ‘từ con gà mái có quả trứng, từ quả trứng có con gà mái, từ con gà mái có quả trứng.’ Như vậy, phải chăng có điểm chấm dứt của tiến trình này?” 

“Thưa ngài, không có.” 

“Tâu đại vương, tương tợ y như thế thậm chí điểm mốc đầu tiên của hành trình này không được nhận biết.” 

“Xin ngài cho thêm ví dụ.” 

Vị trưởng lão đã vạch vòng tròn ở mặt đất rồi nói với đức vua Milinda điều này: 

“Tâu đại vương, có điểm chấm dứt của vòng tròn này chăng?” 

“Thưa ngài, không có.”

“Tâu đại vương, tương tợ y như thế những vòng quay này đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Tùy thuận vào mắt và các cảnh sắc mà nhãn thức sanh lên. Sự hội tụ của ba điều này là xúc, do duyên xúc có thọ, do duyên thọ có ái, do duyên ái có nghiệp, từ nghiệp mắt lại được sanh ra.’ Như vậy, phải chăng có điểm chấm dứt của tiến trình này?” 

“Thưa ngài, không có.” 

“Tùy thuận vào tai và các cảnh thinh —(như trên)— Tùy thuận vào ý và các cảnh pháp mà ý thức sanh lên. Sự hội tụ của ba điều này là xúc, do duyên xúc có thọ, do duyên thọ có ái, do duyên ái có nghiệp, từ nghiệp ý lại được sanh ra.’ Như vậy, phải chăng có điểm chấm dứt của tiến trình này?” 

“Thưa ngài, không có.”

“Tâu đại vương, tương tợ y như thế thậm chí điểm mốc đầu tiên của hành trình này không được nhận biết.” 

“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”  


II. Thảo Luận: TT Giác  Đẳng điều hợp.
1. Hai khái niệm "khởi thủy của luân hồi" và "cội nguồn của sanh tử" khác nhau thế nào? - TT Tuệ Siêu
2. Câu "tiền tiền vô thỉ, hậu hậu vô chung" có đúng với những gì được dạy trong Phật Pháp chăng? - TT Pháp Tân
3. Câu "từ vô thỉ một màu thanh tịnh" và câu "bản lai diện mục" có gì không phù hợp với ý nghĩa của bài học hôm nay? - TT Tuệ Quyền
4. Với người tu Phật tại sao không cần thiết để thảo luận về khởi thủy của đời sống? - TT Pháp Đăng
5. Phải chăng quan niệm khởi thủy của sự sống thường gắn liền với giáo thuyết thượng đế? - TT Tuệ Quyền







Tuesday, July 9, 2013

Bài học, Thứ Ba 9-7-2013

Phật Pháp Vấn Đáp qua Kinh Milindapanha

Giảng Sư: TT Tuệ Quyền


Milinda Vn Đo

Câu hỏi của Vua Milinda
III. PHẨM SỞ HỮU TỨ

Tỳ khưu Nguyệt Thiên dịch

CỘI NGUỒN CỦA HIỆN HỮU

1. Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, cái gì là cội nguồn của hành trình quá khứ? Cái gì là cội nguồn của hành trình vị lai? Cái gì là cội nguồn của hành trình hiện tại?” 

“Tâu đại vương, vô minh là cội nguồn của hành trình quá khứ, của hành trình vị lai, và của hành trình hiện tại. Do duyên vô minh, các hành (sanh khởi). Do duyên các hành, thức (sanh khởi). Do duyên thức, danh sắc (sanh khởi). Do duyên danh sắc, sáu xứ (sanh khởi). Do duyên sáu xứ, xúc (sanh khởi). Do duyên xúc, thọ (sanh khởi). Do duyên thọ, ái (sanh khởi). Do duyên ái, thủ (sanh khởi). Do duyên thủ, hữu (sanh khởi). Do duyên hữu, sanh (sanh khởi). Do duyên sanh, lão, tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như thế điểm mốc đầu tiên của toàn bộ hành trình khổ uẩn này không được nhận biết.” 

“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.” 


II. Thảo Luận: TT Giác  Đẳng điều hợp.
1. Khi chúng ta nói về cội nguồn của đời sống thì phải nói bắt đầu như thế nào trong vòng luân hồi. Phải chăng trong vòng luân hồi bắt đầu bằng vô minh, nhưng nó vốn là một vòng tròn thì không có cái nào bắt đầu cái nào cuối? - TT Pháp Đăng
2. Phải chăng trong đạo Phật không có áp dụng chữ "định mệnh"? - ĐĐ Pháp Tín
3. Một người Phật tử có nên quan trọng về quá khứ và tương lai không? - TT Tuệ Quyền
4. Khi nói về giáo lý duyên khởi thì thường nói về quá khứ, hiện tại, tương lai, vì trong tinh thần nào đó thì hiện tại cũng có nhân trong tương lai, và có quả của quá khứ. Thì phải chăng khi chúng ta nói về cuội nguồn thì không nhất thiết là chỉ nói về quá khứ? - TT Pháp Đăng
5. Có nhiều người nói rằng "muốn biết đời trước thì nhìn hiện tại và muốn biết tương lai thì nhìn vào hiện tại" thì có đúng không? vì không phải quá khứ chỉ có một đời một kiếp mà có rất nhiều đời nhiều kiếp? - ĐĐ Pháp Tín







Monday, July 8, 2013

Bài học, Thứ Hai 8-7-2013

Phật Pháp Vấn Đáp qua Kinh Milindapanha

Giảng Sư: TT Tuệ Siêu


Milinda Vn Đo

Câu hỏi của Vua Milinda
Tỳ khưu Nguyệt Thiên dịch

DÒNG LUÂN HỒI VÀ SỰ HIỆN HỮU

9. Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, điều mà ngài đã nói là ‘hành trình diệu vợi,’ hành trình này gọi là gì?” 

“Tâu đại vương, quá khứ là hành trình, vị lai là hành trình, hiện tại là hành trình.” 

“Thưa ngài, phải chăng hành trình là hiện hữu?” 

“Tâu đại vương, cũng có loại hành trình là hiện hữu, cũng có loại hành trình là không hiện hữu.” 

“Thưa ngài, loại nào là hiện hữu, loại nào là không hiện hữu?” 

“Tâu đại vương, các hành quá khứ, đã qua khỏi, bị hoại diệt, bị biến đổi, loại hành trình ấy không hiện hữu. Các pháp tạo quả và các pháp có nhân tạo quả, chúng ban cho sự đi tái sanh ở nơi khác, loại hành trình ấy là hiện hữu. Các chúng sanh chết đi rồi sanh lên ở nơi khác, loại hành trình ấy là hiện hữu. Các chúng sanh chết đi rồi không sanh lên ở nơi khác, loại hành trình ấy là không hiện hữu. Và các chúng sanh nào viên tịch Niết Bàn, loại hành trình ấy là không hiện hữu, là sự viên tịch Niết Bàn.” 

“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”

Phẩm Hành Trình là thứ nhì. 

(Trong phẩm này có chín câu hỏi)


II. Thảo Luận: TT Giác  Đẳng điều hợp.
1. Quá khứ và hiện tại là pháp có tánh cách xác định, nhưng khi nói về vị lai thì điều gì là bất định và điều gì là cố định? - TT Pháp Đăng
2. Phải chăng khái niệm về thời gian quá khứ, hiện tại, tương lai ảnh hưởng lớn đến chúng ta. Nếu đúng như vậy, tại sao có người thích nghĩ về tương lai, có người thích nghĩ về quá khứ, có những người chỉ nghỉ về hiện tại? - TT Tuệ Quyền
3. Phải chăng mọi tất cả chúng sanh trong cuộc đời này đều mong mỏi khát vọng về sanh hữu, và nếu quả đúng như vậy người chán đời có khát vọng về sanh hữu không? - ĐĐ Pháp Tín
4. Khi câu hỏi về chấp có hay chấp không thì câu trả lời của đạo Phật là vô minh duyên hành, hành duyên thức. Tại sao câu trả lời của Đạo Phật là như vậy? - TT Tuệ Siêu
5. Đôi khi người ta phân là vô minh, hành thuộc về quá khứ, thức danh sắc lục nhập xúc thọ ái thủ hữu là hiện tại rồi sanh lão tử là về tương lai. Nhưng dù là trong quá khứ hay hiện tại tương lai thì bao giờ cũng có vô minh vẫn có ái, trong quá khứ, hiện tại tương lai thì cũng có xúc thọ v.v... thì sự phân chia như vậy có mâu thuẫn không? - TT Tuệ Siêu 
6.  Phải chăng chỉ có vị A la hán mới chấm dứt tất cả khát vọng về tương lai?