Friday, October 10, 2014

Bài học. Thứ Bảy ngày 11-10-2014

GIÁO TRÌNH KINH TẬP SUTTANIPÀTA

Giảng Sư:  TT Pháp Đăng

Chương Ba - Đại Phẩm
(IX) Kinh Vàsettha (Sn 115)


(Kinh này giống với kinh Vàsettha, số 98 của Trung Bộ Kinh, Tập II)

Trung Bộ Kinh
Majjhima Nikaya

98. Kinh Vàsettha
(Vàsettha sutta)

Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Icchanankala (Y-xa-năng -gia-la), tại khu rừng Icchanankala.

Lúc bấy giờ có rất nhiều Bà-la-môn danh tiếng và giàu có trú tại Icchanankala như Bà-la-môn Canki, Bà-la-môn Tarukkha, Bà-la-môn Pokkharasati, Bà-la-môn Janussoni, Bà-la-môn Todeyya cùng rất nhiều Bà-la-môn danh tiếng và giàu có khác. Rồi trong khi các thanh niên Bà-la-môn Vasettha và Bharadvaja đang tản bộ du hành, câu chuyện sau đây được khởi lên: "Thế nào là một vị Bà-la-môn?"

Thanh niên Bharadvaja nói như sau:

-- Nếu ai thiện sanh từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh, như vậy là làm một vị Bà-la-môn.

Thanh niên Vasettha nói như sau:

-- Nếu ai có giới hạnh và thành tựu các cấm giới, như vậy là một vị Bà-la-môn.

Thanh niên Bà-la-môn Bharadvaja không thể thuyết phục thanh niên Bà-la-môn Vasettha, và thanh niên Bà-la-môn Vasettha không thể thuyết phục thanh niên Bharadvaja. Rồi thanh niên Bà-la-môn Vasettha nói với thanh niên Bà-la-môn Bharadvaja:

-- Này Bharadvaja, Sa-môn Gotama này là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Thích-ca, nay đang trú ở Icchanankala, tại khu rừng Icchanankala. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Tôn giả Gotama: "Ðây là Thế Tôn... Phật, Thế Tôn". Này Tôn giả Bharadvaja, chúng ta hãy đến Sa-môn Gotama, sau khi đến hãy hỏi Tôn giả Gotama về nghĩa lý này, và Sa-môn Gotama trả lời như thế nào, chúng ta sẽ như vậy thọ trì.

-- Thưa vâng.

Thanh niên Bà-la-môn Bharadvaja vâng đáp thanh niên Vasettha. Rồi thanh niên Bà-la-môn Vasettha và Bharadvaja cùng đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thanh niên Bà-la-môn Vasettha dùng những bài kệ bạch Thế Tôn:

Chúng con cả hai người, 
Ðược tôn xưng, tự nhận, 
Là những bậc thông thái
Cả ba tập Vệ-đà.

Con là đệ tử Ngài, 
Pokkharasati, 
Còn vị thanh niên này, 
Ðệ tử Tarukkha.

Ba Vệ-đà nói gì, 
Chúng con đều thông đạt, 
Văn cú và văn phạm, 
Chúng con đều thấu hiểu, 
Thuyết giảng và giải thích, 
Thật giống bậc Ðạo sư.

Tôn giả Gotama, 
Giữa hai người chúng con
Có sự tranh luận này, 
Về huyết thống thọ sanh.

Bharadvaja nói: 
"Chính do sự thọ sanh".
Con nói: "Do hành động, 
Mới thành Bà-la-môn".

Mong bậc có Pháp nhãn, 
Hiểu cho là như vậy.
Cả hai người chúng con, 
Không thể thuyết phục nhau. 
Chúng con đến hỏi Ngài, 
Bậc Chánh Giác tôn xưng.

Như trăng được tròn đầy, 
Quần chúng đến chấp tay,
Ðảnh lễ và chiêm ngưỡng. 
Cũng vậy, ở trong đời, 
Quần chúng đến đảnh lễ, 
Gotama Tôn giả.

Chúng con đến hỏi Ngài, 
Bậc Pháp nhãn thế gian, 
Bà-la-môn do sanh, 
Hay chính do hành động? 
Chúng con không được biết, 
Hãy nói chúng con biết.

Ðức Thế Tôn bèn nói:

Này Ông Vasettha, 
Ta trả lời cho Ông, 
Thuận thứ và như thật, 
Sự phân loại do sanh, 
Của các loại hữu tình, 
Chính do sự sanh đẻ, 
Do sanh, có dị loại.

Hãy xem cỏ và cây, 
Dầu chúng không nhận thức, 
Chúng có tướng thọ sanh, 
Do sanh, có dị loại.

Hãy xem loại côn trùng, 
Bướm đêm, các loại kiến, 
Chúng có tướng thọ sanh, 
Do sanh, có dị loại.

Hãy xem loại bốn chân, 
Loại nhỏ và loại lớn, 
Chúng có tướng thọ sanh, 
Do sanh, có dị loại.

Hãy xem loài bò sát, 
Loại rắn, loại lưng dài, 
Chúng có tướng thọ sanh, 
Do sanh, có dị loại.

Hãy xem các loại cá,
Loại sinh sống trong nước, 
Chúng có tướng thọ sanh,
Da sanh, có dị loại.

Hãy xem các loại chim, 
Loại có cánh trên trời, 
Chúng có tướng thọ sanh, 
Do sanh, có dị loại.

Tùy theo sự thọ sanh, 
Chúng có tướng tùy sanh. 
Trong thế giới loài Người, 
Tướng sanh không có nhiều.

Không ở đầu mái tóc, 
Không ở tai, ở mắt,
Không ở miệng, ở mũi, 
Không ở môi, ở mày, 
Không ở cổ, ở nách, 
Không ở bụng, ở lưng, 
Không ở ngực, ở vú, 
Không âm hộ, hành dâm.

Không ở tay, ở chân, 
Không ở ngón, ở móng, 
Không ở cổ chân, vế, 
Không ở sắc, ở tiếng.

Không tướng, do tùy sanh, 
Tùy sanh, loại sai khác.
Trên tự thân con người, 
Không có gì đặc biệt. 
Chỉ tùy theo danh xưng, 
Loài Người được kêu gọi.

Ðối người tự sinh sống. 
Chăn bò, lo ruộng đất, 
Vasettha hãy biết, 
Kẻ ấy là nông phu, 
Không phải Bà-la-môn.

Ai sống theo nghề nghiệp, 
Vasettha hãy biết, 
Kẻ ấy là công thợ, 
Không phải Bà-la-môn.

Ai sống nghề buôn bán, 
Vasettha hãy biết, 
Kẻ ấy là thương nhân, 
Không phải Bà-la-môn.

Ai sống hầu hạ người, 
Vasettha hãy biết, 
Kẻ ấy là nô bộc, 
Không phải Bà-la-môn.

Ai sống lấy của người, 
Vasettha hãy biết, 
Kẻ ấy là kẻ trộm, 
Không phải Bà-la-môn.

Ai sống nghề cung tên, 
Vasettha hãy biết, 
Kẻ ấy là nhà binh, 
Không phải Bà-la-môn.

Ai sống nghề tế tự, 
Vasettha hãy biết, 
Kẻ ấy là tế quan, 
Không phải Bà-la-môn.

Ai sống giữa loài Người, 
Thọ hưởng làng, quốc độ, 
Vasettha hãy biết, 
Kẻ ấy là vua chúa, 
Không phải Bà-la-môn.

Và Ta không có gọi, 
Kẻ ấy Bà-la-môn. 
Chỉ vì do thọ sanh, 
Dầu vị ấy cao sang, 
Dầu vị ấy giàu có, 
Nhưng còn ham thế lợi.

Không tham lam thế lợi, 
Không chấp thủ sở hữu, 
Kẻ ấy Ta mới gọi, 
Chánh danh Bà-la-môn.

Vị đoạn tận kiết sử, 
Không ai không sợ hãi, 
Siêu việt mọi chấp trước, 
Thoát ly các hệ phược, 
Kẻ ấy Ta mới gọi, 
Chánh danh Bà-la-môn.

Cắt dây thừng, dây ách, 
Dây cương, cùng dây trói, 
Quăng đi cây chắn ngang, 
Kẻ ấy Ta mới gọi, 
Bậc sáng suốt, giác ngộ, 
Chánh danh Bà-la-môn.

Ai không lỗi, chịu đựng, 
Nhiếc mắng cùng đánh trói, 
Trang bị với nhẫn lực, 
Kẻ ấy Ta mới gọi, 
Chánh danh Bà-la-môn.

Không phẫn nộ, giữ luật, 
Có giới hạnh không kiêu, 
Nhiếp phục, thân tối hậu, 
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Như nước trên lá sen, 
Hột cải trên đỉnh nhọn, 
Không tham luyến dục vọng, 
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ai biết ngay đời này
Khổ vì ngã đoạn tận, 
Gánh nặng được đặt xuống, 
Xa lìa các hệ phược, 
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Tuệ thâm sâu, có trí
Thiện xảo đạo phi đạo, 
Ðích tối thượng đạt được, 
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ai không còn liên hệ, 
Cả tại gia, xuất gia, 
Không nhà trú, thiểu dục, 
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Bỏ gậy đối chúng sanh, 
Kẻ yếu cùng kẻ mạnh, 
Không giết, không hại ai, 
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Giữa kẻ thù, không thù, 
Giữa hung bạo, an tịnh, 
Giữa chấp thủ, không chấp, 
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Dối, tham, sân, mạn, phú, 
Ai bỏ rơi được chúng, 
Như hột cải rơi khỏi. 
Ðầu nhọn của mũi kim, 
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ai dạy thật nhỏ nhẹ, 
Nói lên lời chơn thực, 
Không xúc chạm một ai, 
Kẻ ấy Ta mới gọi, 
Chánh danh Bà-la-môn.

Dài ngắn hay lớn nhỏ, 
Thanh tịnh hay bất tịnh, 
Ở đời vật dài ngắn, 
Lớn, nhỏ, tịnh, bất tịnh, 
Không lấy vật không cho, 
Kẻ ấy Ta mới gọi, 
Chánh danh Bà-la-môn.

Với ai không tham cầu, 
Ðời này và đời sau, 
Từ bỏ mọi tham cầu, 
Ðoạn rời mọi hệ phược,
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ai không có chấp tàng, 
Với trí đoạn nghi hoặc, 
Ðạt nhập đáy bất tử. 
Kẻ ấy Ta mới gọi, 
Chánh danh Bà-la-môn.

Ở đời ai vượt khỏi, 
Mọi buộc ràng thiện ác, 
Không sầu, không bụi uế, 
Kẻ ấy Ta mới gọi, 
Chánh danh Bà-la-môn.

Ai không uế, thanh tịnh, 
Không gợn, sáng như trăng, 
Hỷ, hữu được đoạn trừ, 
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ai vượt qua hiểm lộ, 
Ác lộ, luân hồi, si, 
Vượt khỏi, đến bờ kia, 
Thiền tư, không dao động, 
Ðoạn trừ mọi nghi hoặc, 
An tịnh, không chấp trước, 
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ở đời, bỏ dục vọng, 
Không nhà, sống xuất gia, 
Ðoạn trừ dục và hữu, 
Kẻ ấy Ta mới gọi, 
Chánh danh Bà-la-môn.

Ở đời, bỏ tham ác, 
Không nhà, sống xuất gia, 
Ðoạn trừ ác và hữu, 
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ai từ bỏ nhân ách, 
Vượt qua cả thiên ách, 
Ðoạn trừ mọi ách nạn, 
Thoát ly mọi hệ phược, 
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Từ bỏ lạc, bất lạc, 
Thanh lương, không y trú, 
Chiến thắng mọi thế giới, 
Bậc anh hùng dũng mãnh, 
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ai biết thật hoàn toàn, 
Sự sanh diệt chúng sanh, 
Không tham trước, Thiện Thệ, 
Giác ngộ, đạt chánh giác, 
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Không biết chỗ sở thủ, 
Thiên, Nhân, Càn-thát-bà, 
Lậu hoặc được đoạn trừ, 
Bậc Ứng Cúng, La-Hán, 
Kẻ ấy Ta mới gọi, 
Chánh danh Bà-la-môn.

Ai không có chấp trước, 
Ðời trước, sau, đời này, 
Không chấp, không sở hữu, 
Kẻ ấy Ta mới gọi, 
Chánh danh Bà-la-môn.

Ngưu vương, bậc Tối thắng, 
Anh hùng, bậc Ðại sĩ, 
Bậc Chinh phục, Bất động, 
Tắm sạch, bậc Giác Ngộ, 
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ai biết được đời trước, 
Thấy được thiện, ác thú, 
Ðạt được sanh diệt đoạn, 
Kẻ ấy Ta mới gọi,
Chánh danh Bà-la-môn.

Ðiều thế giới cho gọi,
Là "tên" và "gia tộc", 
Chỉ tục danh, thông danh, 
Danh từ khởi nhiều chỗ.

Ðã lâu đời chấp trước, 
Tà kiến của kẻ ngu,
Kẻ ngu tự tuyên bố, 
Bà-la-môn do sanh.

Không phải do sanh đẻ, 
Ðược gọi Bà-la-môn, 
Không phải do sanh đẻ, 
Gọi phi Bà-la-môn.

Chính do sự hành động
Ðược gọi Bà-la-môn, 
Chính do sự hành động
Gọi phi Bà-la-môn.

Hành động làm nông phu, 
Hành động làm công thợ, 
Hành động làm lái buôn, 
Hành động làm nô bộc.

Hành động làm ăn trộm, 
Hành động làm nhà binh. 
Hành động làm tế quan, 
Hành động làm vua chúa.

Kẻ trí thấy hành động, 
Như thật là như vậy. 
Thấy rõ lý duyên khởi, 
Biết rõ nghiệp dị thục.

Do nghiệp, đời luân chuyển
Do nghiệp, người luân hồi. 
Nghiệp trói buộc chúng sanh, 
Như trục xe quay bánh.

Do khổ hạnh, Phạm hạnh, 
Tiết chế và chế ngự, 
Tác thành Bà-la-môn. 
Bà-la-môn như vậy, 
Mới thật là tối thượng,

Ba Vệ-đà thành tựu, 
An tịnh, tái sanh đoạn, 
Vesettha nên biết, 
Kẻ ấy được Phạm thiên, 
Ðược Thiên chủ Sakka, 
Biết đến thật tường tận.

Khi được nghe nói vậy, hai thanh niên Bà-la-môn Vasettha và Bharadvaja bạch Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay, tôn giả Gotama ! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama ! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Thưa Tôn giả Gotama, nay con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận chúng con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, chúng con trọn đời quy ngưỡng.


II. Thảo Luận:   TTGiác Đẳng   điều hợp.

Thursday, October 9, 2014

Bài học. Thứ Sáu ngày 10-10-2014

GIÁO TRÌNH KINH TẬP SUTTANIPÀTA

Giảng Sư:  ĐĐ Pháp Tín

Chương Ba - Đại Phẩm
(IV) Kinh Sundarika Bhàradvàja (Sn 80)


Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở phía dân chúng Kosala, trên bờ sông Sundarikà. Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja đốt lửa thiêng trên bờ sông Sundarikà và đang cử hành các tế lễ lửa. Rồi Bà-la-môn Sundarikabhàradavàja, sau khi đốt lửa thiêng, sau khi cử hành các lễ tế lửa, từ chỗ ngồi đứng dậy và ngó xung quanh bốn phương nghĩ rằng: "Ai có thể ăn đồ ăn còn lại của lễ tế tự này?".

Rồi Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja thấy Thế Tôn ngồi dưới một gốc cây, không bao xa, đầu che trùm lại; thấy vậy, tay trái cầm đồ tế tự còn lại, tay mặt cầm cái bình nước, đi đến Thế Tôn. Thế Tôn nghe tiếng chân của Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja liền mở đầu ra. Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja nghĩ rằng: "Ðầu trọc là vị này. Một kẻ đầu trọc là vị này", và muốn đi trở lại. Rồi Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja suy nghĩ: "Ở đây, cũng có một số Bà-la-môn trọc đầu. Vậy ta hãy đi đến vị này và hỏi về thọ sanh". Rồi Bà-la-môn Sundaikabhàradvàja đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói với Thế Tôn:


- Thọ sanh của Tôn giả là thế nào?



Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja những bài kệ:



Thế Tôn:



455. Ta không phải Phạm chí,

Cũng không phải con vua,

Cũng không phải buôn bán,

Không phải là ai hết,
Do liễu tri giai cấp,
Của các hàng phàm phu,
Ta kẻ trí ở đời,
Bộ hành, không sở hữu.

456. Mang áo Tăng-già-lê,
Ta sống, không gia đình,
Với tóc được cạo sạch,
Tự ngã được an tịnh,
Ở đời Ta không nhiễm,
Với các thiếu niên nào,
Không xứng đáng, Ông hỏi,
Hỏi Ta về thọ sanh.

Bà-la-môn:

457. Thật sự, thưa Tôn giả,
Các vị Bà-la-môn
Thường hỏi Bà-la-môn,
Có phải người Phạm chí?

Thế Tôn:

Nếu Ông nói lên rằng:
Ông là Bà-la-môn,
Và nếu Ông hỏi Ta
Không phải Bà-la-môn,
Vậy Ta sẽ hỏi Ông
Về Sàvitti này,
Gồm có mười hai câu,
Và hai mươi bốn chữ.

Bà-la-môn:

458. Do y tựa vào gì,
Các ẩn sĩ, loài Người,
Sát-đế-lị Phạm chí,
Ðã tổ chức tế đàn,
Cho các hàng chư Thiên,
Rộng rãi trong đời này?

Thế Tôn:

Vị nào đạt cứu cánh,
Vị nào hiểu Vệ-đà,
Trong lễ tế đàn này,
Thọ hưởng đồ cúng dường,
Ta tuyên bố, nói rằng
Lễ ấy được tăng thịnh.

Bà-la-môn:

459. Chắc chắn tế đàn ấy,
Cúng dường được tăng thịnh.
Vì chúng ta thấy được,
Vị am hiểu Vệ-đà,
Nếu chúng ta không thấy,
Ðược một ngưòi như Ông,
Một người khác thọ hưởng
Ðồ cúng dường tế đàn.

Thế Tôn:

460. Vì Ông, này Phạm chí,
Ðến Ta vì cần thiết,
Với mục đích rõ ràng,
Vậy nay Ta hỏi Ông,
Ông có thể tìm được
Một bậc trí ở đây,
An tịnh, không sân hận,
Không khổ, không tầm cầu?

Bà-la-môn:

461. Tôi vui trong tế đàn,
Tôn giả Gotama,
Tôi tha thiết ao ước,
Ðược cúng dường tế đàn,
Nhưng tôi không được biết,
Tôn giả hãy dạy tôi!
Hãy nói lên cho tôi,
Chỗ cúng dường tăng thịnh.

Thế Tôn:

Vậy này Bà-la-môn,
Hãy lắng tai mà nghe,
Ta nay sẽ vì Ông,
Tuyên thuyết pháp vi diệu.

462. Chớ hỏi về thọ sanh,
Hãy hỏi về hạnh đức,
Thật vậy, từ củi gỗ,
Một ngọn lửa được sanh,
Từ gia đình thấp kém,
Bậc ẩn sĩ, có trí,
Ðược huấn luyện thuần thục,
Ðược xấu hổ chế ngự.

463. Ðược chân thật huấn luyện,
Ðược nhiếp phục chế ngự,
Bậc đạt đến hiểu biết,
Phạm hạnh được viên thành,
Hãy đúng thời cúng dường,
Ðồ cúng dường vị ấy.
Vậy vị Phạm chí nào
Muốn nguyện cầu công đức,
Hãy tổ chức tế đàn,
Với cúng dường như vậy.

464. Những vị nào, bỏ dục,
Du hành, không gia đình,
Khéo chế ngự nhiếp phục,
Như con thoi trực chỉ.
Ðúng thời đối vị ấy,
Hãy cúng đồ tế tự,
Vị Phạm chỉ cầu phước,
Hãy bố thí như vậy,
Hãy tổ chức tế đàn,
Với cúng dường như vậy.

465. Những vị đã ly tham,
Các căn khéo định tĩnh,
Như trăng được giải thoát,
Khỏi nanh vuốt Ràhu,
Hãy đúng thời cúng dường,
Ðồ cúng dường vị ấy,
Vậy vị Phạm hạnh nào,
Muốn nguyện cầu công đức,
Hãy tổ chức tế đàn,
Với cúng dường như vậy.

466. Không tham dính vật gì,
Họ du hành ở đời,
Luôn luôn giữ chánh niệm,
Từ bỏ ngã sở kiến,
Hãy đúng thời cúng dường,
Ðồ cúng dường vị ấy.
Vậy vị Phạm chí nào,
Muốn cầu nguyện công đức,
Hãy tổ chức tế đàn,
Với cúng dường như vậy.

467. Ai từ bỏ các dục,
Tự nhiếp phục, du hành.
Ai biết sự chấm dứt,
Của sanh và sự chết,
Tịch tịnh và mát lạnh.
Mát lạnh như nước hồ.
Như Lai thật xứng đáng,
Ðồ cúng dường tế tự.

468. Bình đẳng kẻ bình đẳng,
Xa lánh không bình đẳng,
Như Lai chứng đạt được,
Trí tuệ không giới hạn,
Không bị dính, uế nhiễm,
Ðời này hay đời sau.
Như Lai thật xứng đáng,
Ðồ cúng dường tế tự.

469. Trong ai không man trá,
Không sống với kiêu mạn,
Ai không có tham dục,
Không của ta, không cầu,
Phẫn nộ được đoạn trừ,
Tự ngã thật tịch tịnh,
Vị Bà-la-môn ấy,
Cấu uế, sầu muộn đoạn,
Như Lai thật xứng đáng,
Ðồ cúng dường tế tự.

470. Ai đoạn diệt hoàn toàn
Mọi trú xứ của ý,
Không còn có nắm giữ,
Sự vật gì ở đời,
Không còn có chấp thủ,
Ðời này hay đời sau.
Như Lai thật xứng đáng,
Ðồ cúng dường tế tự.

471. Tâm ai thật định tĩnh,
Vượt khỏi được bộc lưu,
Rõ biết được Chánh pháp,
Với tri kiến tối thượng,
Lậu hoặc được đoạn trừ,
Mang thân này tối hậu.
Như Lai thật xứng đáng,
Ðồ cúng dường tế tự.

472. Với ai, các hữu lậu,
Và lời nói thô ác,
Ðược đoạn tận chấm dứt,
Không còn có tồn tại,
Vị ấy đạt hiểu biết,
Giải thoát mọi khía cạnh.
Như Lai thật xứng đáng,
Ðồ cúng dường tế tự.

473. Giữa những người nhiễm trước,
Vị ấy không nhiễm trước,
Giữa chúng sanh kiêu mạn,
Vị ấy không kiêu mạn,
Liễu tri được đau khổ,
Kể cả ruộng và đất.
Như Lai thật xứng đáng,
Ðồ cúng dường tế tự.

474. Không dựa vào ước vọng,
Vị ấy thấy viễn ly,
Vượt qua sự hiểu biết,
Cùng tri kiến người khác,
Ðối với mọi sở duyên,
Vị ấy đều không có,
Như Lai thật xứng đáng,
Ðồ cúng dường tế tự.

475. Vị ấy chứng tri được
Các pháp gần hay xa,
Ðược đoạn trừ, chấm dứt,
Không còn có hiện hữu,
An tịnh, không chấp thủ,
Ðược hoàn toàn giải thoát
Như Lai thật xứng đáng,
Ðồ cúng dường tế tự.

476. Thấy được sự đoạn tận,
Sanh diệt các kiết sử,
Trừ được đường tham dục,
Không còn lại dư tàn.
Thanh tịnh, không lỗi lầm,
Không cấu uế, không nhiễm.
Như Lai thật xứng đáng,
Ðồ cúng dường tế tự.

477. Ai không thấy tự ngã,
Với tự ngã của mình,
Ðịnh tâm và chánh trực,
Kiên trì không dao động,
Vị ấy không có dục,
Không cứng cỏi, phân vân.
Như Lai thật xứng đáng,
Ðồ cúng dường tế tự.

478. Với ai không còn nữa,
Nguyên nhân của si mê,
Biết rõ và thấy rõ,
Ðối với hết thảy pháp,
Và mang nặng thân này,
Thân này thân cuối cùng.
Chứng đạt Chánh Ðẳng Giác,
Vô thượng an ổn xứ,
Ðạt cho đến như vậy,
Bậc Dạ-xoa thanh tịnh.
Như Lai thật xứng đáng,
Ðồ cúng dường tế tự.

Bà-la-môn:

479. Ðây đồ con cúng dường,
Ðồ cúng dường chân thật,
Con đã tìm thấy được,
Bậc trí đức như vậy,
Phạm thiên hãy chứng giám,
Thế Tôn hãy chấp nhận,
Thế Tôn hãy thọ hưởng,
Ðồ cúng dường của con.

Thế Tôn:

480. Ta không có thọ dụng
Ðồ ăn từ kệ tụng,
Hỡi này Bà-la-môn,
Ðây không phải là pháp,
Của những người có trí,
Chư Phật đều từ bỏ,
Ca hát các bài kệ,
Chỗ nào pháp an trú,
Hỡi này Bà-la-môn,
Ðấy chính là truyền thống.

481. Ông cần phải cúng dường,
Ðồ ăn, đồ uống khác,
Bậc Ðại sĩ toàn vẹn,
Ðoạn tận các lậu hoặc,
Ðã đoạn tận trao hối,
Không còn bị dao động,
Ngài chính là thửa ruộng,
Cho người cầu công đức.

Bà-la-môn:

482. Thế Tôn, con muốn biết,
Người có tin như con,
Ai có thể hưởng thọ,
Ðồ cúng dường của con,
Trong khi lễ tế đàn,
Con phải tìm đến ai?
Lời Ngài dạy thế nào,
Con sẽ đạt cho được.

Thế Tôn:

483. Với ai, không xông xáo,
Với ai, tâm không động,
Giải thoát khỏi các dục,
Với ai bỏ hôn trầm,

484. Lãnh đạo kẻ biên giới,
Thiện xảo trong sanh tử,
Ẫn sĩ đầy đủ tuệ,
Ðã đến lễ tế đàn.

485. Nhiếp phục kiêu ngạo xong,
Hãy chắp tay đảnh lễ,
Cúng dường đồ ăn uống,
Cúng dường vậy tăng trưởng.

Bà-la-môn:

486. Ngài là bậc Giác Ngộ,
Xứng đáng được cúng dường,
Ngài là ruộng phước đức,
Vô thượng, không gì hơn,
Vị tiếp nhận cúng dường,
Xứng đáng toàn thế giới.
Bố thí cho Tôn giả,
Kết quả thật to lớn.

Rồi Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja bạch Thế Tôn:

- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thưa Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, hay phơi bày ra những gì bị che kín, hay chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mặt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con nay quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Hãy cho con được xuất gia với Tôn giả Gotama. Hãy cho con thọ đại giới.

Và Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja... trở thành một vị A-la-hán.



II. Thảo Luận:   TT Giác Đẳng   điều hợp.
 1: Chữ ước vọng trong câu "không dựa vào ước vọng có hàm nghĩa gì? - TT Tuệ Siêu
loc
 2 : "Vượt qua mọi hiểu biết, và tri kiến kẻ khác " nghĩa là gì? - TT Tuệ Siêu
 3. Thế nào là sự lễ bái, cúng dường mang lại nhiều phước báu theo Phật Pháp? - TT Pháp Đăng
 4 : Vị tu sĩ an trú vào trạng thái nào mang lại nhiều phúc lành cho người cúng dường? - TT Tuệ Siêu
 5 : Chúng ta có thể giảm thiểu tánh ngã mạn bằng sự kính lễ các bậc giới đức? - ĐĐ Pháp Tín
 6 .  Lễ bái, cúng dường kim thân Phật có phước như lễ bái chính Đức Phật chăng? - TT Pháp Đăng

Bài học. Thứ Năm ngày 9-10-2014

GIÁO TRÌNH KINH TẬP SUTTANIPÀTA

Giảng Sư:  TT Giác Đẳng

Chương Hai - Tiểu Phẩm

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

(VIII) Kinh Mũi Tên (Sn 112)
574. Sinh mạng của loài Người,
Ở đời không ai biết,
Không tướng, nhiều phiền toái,
Nhỏ nhoi, liên hệ khổ.

575. Không có sự gắng nào,
Khiến sống thoát khỏi chết,
Sau khi già là chết,
Pháp hữu tình là vậy.

576. Như các trái chín muồi,
Có sợ bị rơi sớm,
Cũng vậy, người được sanh,
Thường có sợ bị chết.

577. Như người thợ làm ghè
Làm chén bát đất sét,
Cuối cùng, bể tất cả,
Mạng sống người là vậy.

578. Trẻ tuổi và lớn tuổi,
Người ngu và kẻ trí,
Tất cả đi đến chết,
Cuối cùng rồi cũng chết.

579. Những ai chết chi phối,
Ði qua đến đời sau,
Cha không cứu được con,
Hay bà con cứu nhau.

580. Hãy xem, các bà con
Ðứng nhìn và than khóc,
Từng người, đi đến chết,
Như bò mang đi giết,

581. Như vậy, thế giới này
Bị già chết chi phối,
Do vậy, bậc nhiều trí,
Biết đời, nên không sầu

582. Ai không biết con đường,
Ðường đến và đuờng đi,
Do không thấy hai ngã,
Than khóc, không lợi ích.

583. Nếu thật sự than khóc,
Ðem lại lợi ích gì,
Kẻ ngu tự hại mình,
Người có mắt sẽ làm.

584. Không với sầu, nước mắt,
Khiến nội tâm an tịnh,
Khổ càng tăng trưởng thêm,
Thân càng bị gia hại.

585. Ốm yếu, sắc da tái,
Tự mình hại chính mình,
Kẻ chết không được hộ,
Than khóc thật vô ích.

586. Chúng sanh không bỏ sầu,
Càng gặp nhiều đau khổ,
Càng rên khóc kẻ chết,
Càng bị sau chi phối.

587. Hãy xem các người khác
Ði theo hạnh nghiệp mình,
Rơi vào giới thần chết,
Hữu tình đầy hoảng sợ.

588. Loài Người còn mong ước,
Thế này hay thế khác,
Nhưng sự việc xảy ra,
Hoàn toàn thật sai khác,
Như vậy tánh không có,
Xem định tánh của đời.

589. Nếu loài Người sống được,
Sống hơn một trăm năm,
Rồi không có bà con,
Ở đây, bỏ mạng sống.

590. Do vậy, sau khi nghe
Bậc La-hán thuyết giảng,
Hãy nhiếp phục than van,
Khi thấy kẻ bị chết,
Hãy suy nghĩ như sau,
Ta không còn vị ấy.

591. Như nhà lửa bị cháy,
Nhờ nước, lửa dập tắt,
Cũng vậy, bậc Hiền trí,
Có tuệ trí, thiện xảo,
mau chóng nhiếp phục sầu,
Như bông gió thổi bay.

592. Ai tự tìm hạnh phúc,
Hãy tự mình rút tên,
Mũi tên là than khóc,
Tham cầu tư ưu sầu.

593. Ai đã rút mũi tên,
Không nương tựa nhờ cậy,
Tâm vị ấy đạt được,
Sự an lành an tịnh,
Vượt khỏi mọi ưu sầu,
Tâm không sầu, tịch tịnh.


II. Thảo Luận:   TT Giác Đẳng điều hợp.
1. Có người cho rằng nếu như trong giáo pháp Đức Phật thuyết chỉ nói đến sự khổ già, khổ bịnh, khổ chết. Như vậy họ cho rằng đạo Phật có thái độ tiêu cực. Xin hỏi suy niệm về sự chết với thái độ như thế nào để không trở thành bi quan tiêu cực? - TT Giác Đẳng
2. Phải chăng có những cái chết của người thân là do "hết nợ"? - TT Tuệ Quyền
3. Nước mắt sầu thương vô ích đối với người chết nhưng có thật sự giúp xoa vơi nỗi khổ của thân nhân hiện tiền? - TT Tuệ Quyền
4. Phải chăng sự khóc lóc của người thân khiến người chết không siêu thoát được? - TT Tuệ Siêu

5. Có thể chăng người thân làm thức ăn mặn khiến người chết bị đoạ? - TT Tuệ Siêu




Tuesday, October 7, 2014

Bài học. Thứ Tư ngày 8-10-2014

GIÁO TRÌNH KINH TẬP SUTTANIPÀTA

Giảng Sư:  TT Pháp Đăng

Chương Hai - Tiểu Phẩm

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

(XIII) Kinh Chánh xuất gia (Sn 63)

Người hỏi:

359. Tôi hỏi bậc ẩn sĩ,
Có trí tuệ rộng lớn,
Ðã vượt qua bờ kia,
Tịch tịnh, tự an trú.
Làm sao một Tỷ-kheo,
Bỏ nhà, bỏ các dục,
Lại có thể chơn chánh
Du hành ở trên đời?

Thế Tôn:

360. Ai nhổ lên điềm lành,
Như vậy, Thế Tôn đáp
Các sao băng mộng mị,
Và các tướng lành dữ,
Vị ấy đoạn trừ được,
Các lỗi lầm điềm lành;
Tỷ kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

361. Tỷ-kheo nhiếp phục tham,
Ðối với các dục vọng,
Tại thiên giới, nhân giới,
Vượt hữu, chứng tri pháp;
Tỷ kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

362. Tỷ kheo bỏ hai lưỡi,
Bỏ phẩn nộ, xan tham,
Với tùy thuộc chống đối,
Ðoạn tận thật hoàn toàn,
Tỷ kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

363. Sau khi đã từ bỏ,
Cả ái và phi ái,
Không chấp thủ một ai,
Không y chỉ chỗ nào,
Giải thoát được hoàn toàn
Các kiết sử trói buộc,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

364. Ai không tìm lõi cây,
Ðối với các sanh y,
Có thể nhiếp phục tham,
Ðối với các chấp thủ,
Vị ấy không y chỉ,
Không để ai dắt dẫn,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

365. Với lời và với ý,
Và với cả nghiệp làm,
Không chống đối một ai,
Chơn chánh biết diệu pháp,
Thường cố gắng hướng đến,
Ðường Niết bàn tịch tịnh,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

366. Tỷ-kheo không tự cao,
Khi người đảnh lễ mình,
Dầu có bị nhiếc mắng,
Không khởi tâm tức tối,
Ðược đồ ăn của người,
Không có sự tham đắm,
Tỷ kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

367. Tỷ-kheo sau khi đoạn,
Tham dục và sanh hữu,
Từ bỏ, không làm hại,
Không trói buộc một ai,
Vị ấy vượt nghi hoặc,
Ðã rút ra mũi tên,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

368. Tỷ-kheo sau khi biết,
Ðiều thích đáng cho mình,
Không làm hại một ai,
Có mặt ở trên đời,
Sau khi đã biết pháp
Như thật, như thế nào,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

369. Với ai, các tuỳ miên,
Không còn có tồn tại,
Và cội gốc bất thiện,
Ðược nhổ lên tận trừ,
Vị ấy không tham dục,
Không có hy cầu gì.
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

370. Ai đoạn tận lậu hoặc,
Ðoạn trừ cả kiêu mạn,
Mọi con đường tham dục,
Ðược chế ngự nhiếp phục,
Ðược nhiếp phục tịch tịnh,
Tự ngã được an lập,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

371. Có lòng tin, nghe pháp,
Thấy được quyết định tánh,
Bậc hiền không phe phái,
Giữa rất nhiều phe phái,
Có thể nhiếp phục được,
Tham, sân và hận thù,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

372. Thanh tịnh và chiến thắng,
Kéo lên màn che kín,
Tự tại trong các pháp,
Ðến bờ kia, bất động,
Ðoạn diệt các sở hành,
Thiện xảo trong chánh trí,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

373. Trong những thời quá khứ,
Trong những thời vị lai,
Vượt qua các chủ thuyết,
Trí tuệ thật thanh tịnh,
Với tất cả mọi xứ,
Ðược hoàn toàn giải thoát.
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

374. Rõ biết được Pháp cú,
Chứng tri được Chánh pháp,
Thấy được sự mở rộng,
Ðoạn tận các lậu hoặc,
Ðối tất cả sanh y,
Ðược trừ diệt hoàn toàn,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.

Người hỏi:

375. Bạch Thế Tôn, chắc chắn,
Thực sự là như vậy,
Tỷ-kheo được chế ngự,
Ðã an trú như vậy,
Ðã nhiếp phục hoàn toàn,
Tất cả các kiết sử,
Tỷ-kheo ấy chơn chánh
Du hành ở trên đời.


II. Thảo Luận:   TT Giác Đẳng điều hợp.
1.  Phải chăng đời sống thu hẹp của những tu sĩ dễ tạo nên tính bất mãn, phẫn nộ? Nếu đúng vậy thì nên làm gì? - ĐĐ Pháp Tín
2 :  Nếu một người trong sự tu tập, làm thiện luôn luôn mong cầu quả phúc đời sau thì có vấn đề gì? - TT Pháp Đăng
 3 : Nếu so sánh thì sự tu thân và xử thế cái nào khó hơn? - TT Tuệ Siêu
  4. Người ta nói thà có chấp thủ hơn là không có gì để chấp thủ? - TT Tuệ Quyền
5. Làm thế nào một người tu tập quán sát yểm ly với thực tại mà không hy cầu ở tương lai? - TT Tuệ Siêu
 6 :  Phải chăng với người tu thì những khổ sở vẫn tốt hơn là sung sướng? - TT Tuệ Quyền

Monday, October 6, 2014

Bài học. Thứ Ba ngày 7-10-2014

GIÁO TRÌNH KINH TẬP SUTTANIPÀTA

Giảng Sư:  TT Giác Đẳng & TT Tuệ Siêu

Chương  Ba - Đại Phẩm

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

(I) Kinh Xuất Gia (Sn 72)

Ananda:

405. Xuất gia, tôi tán thán,
Như Pháp nhãn xuất gia,
Sau khi Ngài quán sát,
Chấp thuận hạnh xuất gia.

406.Trói buộc, sống gia đình,
Tụ hội mọi bụi đời,
Phóng khoáng, đời xuất gia,
Thấy vậy nên xuất gia.

407. Sau khi Ngài xuất gia,
Thân ác nghiệp Ngài tránh,
Từ bỏ lời nói ác,
Mạng sống Ngài thanh tịnh.

408. Phật đi đến Vương Xá,
Ðến chỗ núi bao vây,
Tại nước Ma-kiệt-đà,
Ngài sống hạnh khất sĩ,
Mang theo thật đầy đủ,
Các tướng tốt quang minh.

409. Bình Sa vương thấy Ngài,
Ðứng trên sân lầu thượng,
Thấy đầy đủ tướng tốt,
Bèn nói lên lời này:

410. Các Ông hãy chăm sóc
Người đẹp, lớn, thanh tịnh,
Thành tựu với hạnh đức,
Chỉ nhìn vừa một tầm.

411. Mắt nhìn xuống, chánh niệm,
Gia đình không hạ tiện,
Hãy cho sứ giả theo,
Tỷ-kheo sẽ đi đâu?

412. Ðược sai, sứ giả ấy
Ði theo sau lưng Ngài,
Tỷ-kheo sẽ đi đâu?
Trú xứ sẽ chỗ nào?

413. Khất thực, từng nhà một,
Căn hộ trì chế ngự,
Bình bát được mau đầy,
Tỉnh giác và chánh niệm.

414. Sau khi đi khất thực,
Ẩn sĩ ra khỏi thành,
Leo lên Pandava,
Sẽ trú xứ tại đấy.

415. Thấy vị ấy đến chỗ,
Các sứ giả ngồi chờ,
Còn một vị đi về,
Kể lại chuyện vua hay.

416. Ðại vương, Tỷ-kheo ấy,
Phía đông Pandava,
Ngồi như cọp, bò chúa,
Như sư tử trong hang.

417. Nghe sứ giả, đức vua
Với cỗ xe thù thắng,
Vội vàng ra khỏi thành,
Ði đến Pandava.

418. Ði được, vua đi xe,
Rồi xuống xe đi bộ,
Ðức vua tiến lại gần,
Và vào chỗ Ngài ở.

419. Ngồi xuống, vua nói lên
Lời hỏi thăm chào đón,
Lời lẽ chào đón xong,
Vua nói lên nghĩa này.

420. Người thanh niên tuổi trẻ,
Ngây thơ, bước vào đời,
Ðẹp cao được đầy đủ,
Thiện sanh dòng Sát-ly.

421. Trang hoàng binh đội ngũ,
Trước mắt cả binh đoàn,
Tài sản ta cho Người,
Hãy hưởng và trả lời
Về vấn đề thọ sanh.

Thế Tôn:

422. Trên sườn núi Tuyết sơn,
Sống dân tộc đoạn trực,
Tài sản nghị lực đủ,
Ở xứ Kosala.

423. Dòng họ thuộc mặt trời,
Sanh tộc là Thích-ca,
Từ bỏ gia tộc ấy,
Thưa vua, Ta xuất gia,
Ta không có tha thiết,
Ðối với các loại dục.

424. Thấy nguy hiểm trong dục,
Bỏ chúng, là an ổn,
Ta sẽ đi, tinh tấn,
Ý Ta, được hoan hỷ.


II. Thảo Luận:   TT Giác Đẳng  điều hợp.
 1. Đời sống tu tập là đời sống từ bỏ dễ hay khó? - TT Giác Đẳng
2. Một sự xuất gia vào chùa thọ giới từ Tăng chúng và sự xuất gia vào rừng tu tập một mình. Thì hai sự xuất gia này có sự khác biệt như thế nào? - TT Tuệ Siêu
3. Hiện này có 2 cái nhìn trái ngược nhau. Một bên, đặc biệt ở Hoa Kỳ thiếu các vị tu sĩ nên họ mong có người xuất gia trở thành tu sĩ. Nhưng một số khác thì nghĩ rằng ngày nay các vị tu sĩ không còn lý tưởng như xưa mà chỉ vào chùa vì hưởng thụ lợi ích cá nhân. Thì với hoàn cảnh hiện nay thì chúng ta nên làm gì khác hơn? - TT Tuệ Siêu
4. Ngày xưa nói đi xuất gia là bỏ nhà vào rừng tu, thực phẩm thì đi khất thực. Ngày nay thì xuất gia là vào chùa tu tập. Thì điều kiện xuất gia ngày nay có khó hơn ngày xưa không? - TT Tuệ Siêu
 5. Phải chăng. Một người giàu có, thành công trong xã hội mà xuất gia thì đáng qúi, còn người xuất gia vì sự thất bại, thất tình thì không đáng qúi? - TT Tuệ Siêu
6. Cụm từ "xuất gia từ bỏ gia đình sống không gia đình" ý nghĩa như thế nào? - TT Tuệ Siêu