Thursday, January 8, 2015

Bài học. Thứ Năm ngày 8-1-2015

KINH PHẬT TỰ THUYẾT - UDÀNA

Giảng Sư:  TT Tuệ Siêu

Phẩm Một - Phẩm Phẩm Bodhivaggo 

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

(VII) (Ud 4)

Như vầy tôi nghe:Một thời Thế Tôn trú ở Pàtali tại Ajakalàpaka, chỗ ở của Dạ-xoa Ajakalàpa. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, trong đêm tối đen, và trời mưa từng hột xuống. Rồi Dạ-xoa Ajakalàpaka muốn làm cho Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, ba lần nói lên gần Thế Tôn tiếng gào thét của mình là Akkulopakkulo: "Này Sa môn, có con quỷ cho Ông ". Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng này:

7. Khi nào Bà-la-môn/ Ðối với pháp của mình,/ Ðã đạt được bờ kia,/ Vị ấy vượt qua được,/ Ác quỷ yêu ma này.
1-7: Pàvàsuttaü (7)

1. Evaü me sutaü: ekaü samayaü Bhagavà Pàvàyaü 11 viharati Ajakalàpake cetiye Ajakalàpakassa yakkhassa bhavane. Tena kho pana samayena Bhagavà rattandhakàratimisàyaü [PTS Page 005] [\q 5/] abbhokàse nisinno hoti. Devo ca ekam-ekaü phusàyati, atha kho Ajakalàpako yakkho Bhagavatà bhayaü chambhitattaü lomahaüsaü uppàdetukàmo yena Bhagavà tenupasaïkami, upasaïkamitvà Bhagavato avidåre tikkhattuü ßakkulo pakkuloû ti akkulapakkulikaü akàsi, ßeso te samaõa pisàcoû ti.

2. Atha kho Bhagavà etam-atthaü viditvà tàyaü velàyaü imaü udànaü udànesi:

ßYadà sakesu dhammesu ~ pàragu hoti brahmaõo, /Atha etaü pisàca¤-ca ~ pakkula¤-càtivattatãû-ti.


II. Thảo Luận:   TT Giác Đẳng điều hợp.
1. Làm sao để bớt sợ ma? - TT Pháp Đăng
2. So sánh giữa hai cá tính "cái gì cũng sợ" và "cái gì cũng liều lĩnh" thì thái độ nào tốt hơn cho cuộc sống? - ĐĐ Pháp Tín
 3. Tại sao có những chúng sanh có thiện duyên với Đức Phật nhưng lúc mới gặp Phật thì có thái độ rất phạm thượng?TT Pháp Đăng

4 : Tại sao trong kinh thường ghi "ác ma biết đức Thế Tôn biết mình nên biến mất"? ĐĐ Pháp Tín

Tuesday, January 6, 2015

Bài học. Thứ Tư ngày 7-1-2015

KINH PHẬT TỰ THUYẾT - UDÀNA

Giảng Sư:  Không có giảng Sư giảng - đạo tràng để băng giảng ngày 5-1-2015

Chương Một - Phẩm Bồ Đề

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

(VII) (Ud 4)

Như vầy tôi nghe:Một thời Thế Tôn trú ở Pàtali tại Ajakalàpaka, chỗ ở của Dạ-xoa Ajakalàpa. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, trong đêm tối đen, và trời mưa từng hột xuống. Rồi Dạ-xoa Ajakalàpaka muốn làm cho Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, ba lần nói lên gần Thế Tôn tiếng gào thét của mình là Akkulopakkulo: "Này Sa môn, có con quỷ cho Ông ". Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói lên lời cảm hứng này:

7. Khi nào Bà-la-môn/ Ðối với pháp của mình,/ Ðã đạt được bờ kia,/ Vị ấy vượt qua được,/ Ác quỷ yêu ma này.
1-7: Pàvàsuttaü (7)

1. Evaü me sutaü: ekaü samayaü Bhagavà Pàvàyaü 11 viharati Ajakalàpake cetiye Ajakalàpakassa yakkhassa bhavane. Tena kho pana samayena Bhagavà rattandhakàratimisàyaü [PTS Page 005] [\q 5/] abbhokàse nisinno hoti. Devo ca ekam-ekaü phusàyati, atha kho Ajakalàpako yakkho Bhagavatà bhayaü chambhitattaü lomahaüsaü uppàdetukàmo yena Bhagavà tenupasaïkami, upasaïkamitvà Bhagavato avidåre tikkhattuü ßakkulo pakkuloû ti akkulapakkulikaü akàsi, ßeso te samaõa pisàcoû ti.

2. Atha kho Bhagavà etam-atthaü viditvà tàyaü velàyaü imaü udànaü udànesi:

ßYadà sakesu dhammesu ~ pàragu hoti brahmaõo, /Atha etaü pisàca¤-ca ~ pakkula¤-càtivattatãû-ti.


II. Thảo Luận:   Chư Tăng điều hợp.

Monday, January 5, 2015

Bài học. Thứ Ba ngày 6-1-2015

KINH PHẬT TỰ THUYẾT - UDÀNA

Giảng Sư:  TT Tuệ Quyền

Chương Một - Phẩm Bồ Đề

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

(IV) (Ud 3)

Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú ở Uruvelà, trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây bàng ajapala, khi mới chứng Chánh Ðẳng Giác. Lúc bấy giờ, Thế Tôn trong bảy ngày ngồi trong một thế ngồi kiết-già, thọ hưởng lạc giải thoát. Rồi Thế Tôn sau bảy ngày ấy ra khỏi định. Có một Bà-la-môn thuộc dòng họ Huhunka, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên lời chào hỏi, sau khi nói lời chào hỏi thân hữu, rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Bà-la-môn ấy nói với Thế Tôn:

- Tôn giả Gotama, cho đến như thế nào là Bà-la-môn, và những pháp nào tác thành Bà-la-môn?

Thế Tôn sau khi biết được ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

4. Vị Bà-la-môn nào,
 Loại trừ các ác pháp,
 Không kiêu, không uế nhiễm,
 Tự ngã khéo chế ngự,
Vệ-đà được thông đạt
Phạm hạnh được viên thành,
Vị Bà-la-môn ấy,
Có thể nói lên được,
Lời Phạm ngữ đúng pháp,
Vị ấy ở đời này,
Không hề có mạn tâm 
Bất cứ ở nơi nào.
1-4: Nigrodhasuttaü (4)

Evaü me sutaü: ekaü samayaü Bhagavà Uruvelàyaü viharati najjà Nera¤jaràya tãre Ajapàlanigrodhamåle 3 pañhamàbhisambuddho. Tena kho pana samayena Bhagavà sattàhaü ekapallaïkena nisinno hoti vimuttisukhapañisaüvedã.

Atha kho Bhagavà tassa sattàhassa accayena tamhà samàdhimhà vuññhàsi. Atha kho a¤¤ataro huhuïkajàtiko 4 bràhmaõo yena Bhagavà tenupasaïkami, upasaïkamitvà Bhagavatà saddhiü sammodi. Sammodanãyaü kathaü sàràõãyaü vãtisàretvà ekamantaü aññhàsi. Ekamantaü ñhito kho so bràhmaõo Bhagavantaü etad-avoca:

ßKittàvatà nu kho bho Gotama bràhmaõo hoti? Katame ca pana bràhmaõakaraõà dhammà?"-ti 5

Atha kho Bhagavà etam-atthaü viditvà tàyaü velàyaü imaü udànaü udànesi:

ßYo bràhmaõo bàhitapàpadhammo / Nihuhuïko 6 nikkasàvo yatatto / Vedantagå vusitabrahmacariyo / Dhammena so brahmavàdaü vadeyya / Yassussadà natthi kuhi¤ci lokeû-ti.

(V) (Ud 3)

Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ) tại Jetavana (Kỳ-đà-lâm), khu vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất), Tôn giả Mahàmoggallàna (Ðại Mục-kiền-liên) Tôn giả Mahàkassapa (Ðại Ca-diếp), Tôn giả Mahàkaccayàna (Ðại Ca-chiên-diên), Tôn giả Mahàkotthita (Ðại Câu-thi-la), Tôn giả Mahàkappina (Ðại kiếp-tân-na), Tôn giả Mahàcunda (Ðại-Thuần-đà), Tôn giả Anuruddha (A-na-luật-đà), Tôn giả Revata (Ly-bà-đà), Tôn giả Devadatta (Ðề-bà-đạt-đa), Tôn giả Ananda (A-nan) đi đến Thế Tôn. Thế Tôn thấy các Tôn giả ấy từ xa đi đến, thấy vậy liền nói với các Tỳ-kheo:

- Này các Tỳ-kheo, các Bà-la-môn này đang đi đến. Này các Tỳ-kheo, các Bà-la-môn này đang đi đến.

Khi được nói vậy, một Tỳ-kheo, thọ sanh là Bà-la-môn, bạch Thế Tôn: / - Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, là Bà-la-môn, và có bao nhiêu pháp, tác thành Bà-la-môn?

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

5. Sau khi loại ác pháp,
 Ai thường hành chánh niệm,
Kiết sử đoạn, giác ngộ,
Những vị ấy ở đời,
Thật là Bà-la-môn.
1-5: Therasuttaü (5)

Evaü me sutaü: ekaü samayaü Bhagavà Sàvatthiyaü viharati Jetavane Anàthapiõóikassa àràme. Tena kho pana samayena àyasmà ca Sàriputto àyasmà ca Mahàmoggallàno àyasmà ca Mahàkassapo àyasmà ca Mahàkaccàyano àyasmà ca Mahàkoññhito àyasmà ca Mahàkappino àyasmà ca Mahàcundo àyasmà ca Anuruddho àyasmà ca Revato àyasmà ca ânando 7 yena Bhagavà tenupasaïkamiüsu. [PTS Page 004] [\q 4/] Addasà kho Bhagavà te àyasmante dårato va àgacchante. Disvàna bhikkhå àmantesi. ßEte bhikkhave bràhmaõà àgacchanti, ete bhikkhave bràhmaõà àgacchantãû-ti.

Evaü vutte a¤¤ataro bràhmaõajàtiko bhikkhu Bhagavantaü etad-avoca: ßkittàvatà nu kho bhante bràhmaõo hoti? Katame ca pana bràhmaõakaraõà dhammà?" ti.

Atha kho Bhagavà etam-atthaü viditvà tàyaü velàyaü imaü udànaü udànesi:

ßBàhitvà pàpake dhamme ~ ye caranti sadà satà, /Khãõasaüyojanà Buddhà ~ te ve 8 lokasmiü bràhmaõàû ti. 

(VI) (Ud 4)

Như vầy tôi nghe:Một thời Thế Tôn trú ở Vương Xá, tại Trúc lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ Tôn giả Mahakassapa trú ở hang Pipphali, đang bị bệnh rất khổ đau, bệnh trầm trọng. Rồi Tôn giả Mahàkassapa sau một thời gian, thoát khỏi bệnh ấy. Rồi Tôn giả Mahàkassapa thoát khỏi bệnh ấy, suy nghĩ như sau: "Ta hãy đi vào Vương Xá để khất thực ". Lúc bấy giờ, khoảng năm trăm Thiên nhân, đang cố gắng sửa soạn để Tôn giả Mahàkassapa nhận đựoc đồ ăn khất thực. Nhưng Tôn giả Mahàkassapa gạt bỏ năm trăm Thiên nhân ấy, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi vào Vương Xá để khất thực, đi ngang những con đường những con người nghèo, con đường những người ăn xin, con đường những người thợ dệt.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

6. Ai sống không nhờ người,
 Không được người biết đến, 
 Sống tự mình chế ngự, 
 An trú trên lõi cây, 
 Các lậu hoặc đã đoạn, 
 Sân hận được trừ diệt, 
 Vị ấy được Ta gọi, 
 Là vị Bà-la-môn.



II. Thảo Luận:   Chư Tăng điều hợp.
1. Lý do gì Ngài Kassapa chỉ độ cho người nghèo, hay Ngài cũng độ bình đẳng cho tất cả mọi người? - TT Pháp Tân
2. Sự tu tập trong Phật giáo thì tu tập như thế nào để đưa đến giải thoát vĩnh viễn, tu tập như thế nào để giải thoát tương đối? - ĐĐ Pháp Tín
3.Trong bài học hôm nay có câu "sống tự mình chế ngự". Cách nào để mình sống tự mình chế ngự? - TT Pháp Tân


Bài học. Thứ Hai ngày 5-1-2015

 KINH PHẬT TỰ THUYẾT - UDÀNA

Giảng Sư:  TT Giác Đẳng

Chương Một - Phẩm Bồ Đề

Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt

I) (Ud 1)

Như vầy tôi nghe:
Một thời Thế Tôn ở Uruvelà, trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Bồ đề, khi mới chứng Chánh Ðẳng Giác. Lúc bấy giờ, Thế Tôn trong bảy ngày ngồi trong một thế ngồi kiết-già, thọ hưởng lạc giải thoát. Rồi Thế Tôn sau bảy ngày ấy, ra khỏi định ấy, trong đêm canh thứ nhứt, khéo thuận chiều tác ý lý Duyên khởi: "Do cái này có mặt, cái kia hiện hữu. Do cái này sanh, cái kia sanh. Tức là duyên vô minh, có các hành; duyên các hành, có thức; duyên thức, có danh sắc; duyên danh sắc, có sáu xứ; duyên sáu xứ, có xúc; duyên xúc, có thọ; duyên thọ, có ái; duyên ái, có thủ; duyên thủ, có hữu; duyên hữu, có sanh; duyên sanh, có già, chết, sầu bi khổ ưu não. Như vậy là sự tập khởi của khổ uẩn này".
Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

1. Thật sự, khi các pháp,

Có mặt, hiện khởi lên,

Ðối vị Bà-la-môn,

Nhiệt tâm hành thiền định,
Khi ấy, với vị ấy,
Các nghi hoặc tiêu trừ,
Vì quản tri hoàn toàn,
Pháp cùng với các nhân.
Chánh Văn Pali

1-1: Pañhamabodhisuttaü (1)
1. Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā uruvelāyaṃ viharati najjā nerañjarāya tīre bodhirukkhamūle paṭhamābhisambuddho. Tena kho pana samayena bhagavā sattāhaṃ ekapallaṅkena nisinno hoti vimuttisukhapaṭisaṃvedī [vimuttisukhaṃ paṭisaṃvedī (syā. pī. ka.)]. Atha kho bhagavā tassa sattāhassa accayena tamhā samādhimhā vuṭṭhahitvā rattiyā paṭhamaṃ yāmaṃ paṭiccasamuppādaṃ anulomaṃ sādhukaṃ manasākāsi –
‘‘Iti imasmiṃ sati idaṃ hoti, imassuppādā idaṃ uppajjati, yadidaṃ – avijjāpaccayā saṅkhārā, saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ, viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ, nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṃ, saḷāyatanapaccayā phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā, taṇhāpaccayā upādānaṃ, upādānapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hotī’’ti.
Atha kho bhagavā etamatthaṃ viditvā tāyaṃ velāyaṃ imaṃ udānaṃ udānesi –
‘‘Yadā have pātubhavanti dhammā,
Ātāpino jhāyato brāhmaṇassa;
Athassa kaṅkhā vapayanti sabbā,
Yato pajānāti sahetudhamma’’nti. paṭhamaṃ;

Bài Hai - (II) (Ud 2)
Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn ở tại Uruvelà, trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Bồ-đề, khi mới chứng Chánh Ðẳng Giác. Lúc bấy giờ Thế Tôn trong bảy ngày, ngồi trong một thế ngồi kiết-già thọ hưởng lạc giải thoát. Rồi Thế Tôn sau bảy ngày ấy, ra khỏi định ấy, trong đêm canh giữa, khéo nghịch chiều tác ý lý Duyên khởi: "Do cái này không có mặt, cái kia không hiện hữu. Do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là, do vô minh diệt nên hành diệt; do hành diệt, nên thức diêt; do thức diệt, nên danh sắc diệt; do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt; do sáu xứ diệt nên xúc diệt, do xúc diệt nên thọ diệt, do thọ diệt, nên ái diệt; do ái diệt, nên thủ diệt; do thủ diệt, nên hữu diệt; do hữu diệt, nên sanh diệt; do sanh diệt, nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não diệt. Như vậy là đoạn diệt của khổ uẩn này".

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này.



2. Thật sự khi các pháp,
Có mặt, hiện khởi lên, 
Ðối với vị Bà-la-môn, 
Nhiệt tâm, hành thiền định, 
Khi ấy, với vị ấy, 
Các nghi hoặc tiêu trừ, 
Vì đã biết hoàn toàn, 
Sự tiêu diệt các duyên.

Chánh Văn Pali:

2. Dutiyabodhisuttaṃ
2. Evaṃ me sutaṃ – eka samayaṃ bhagavā uruvelāyaṃ viharati najjā nerañjarāya tīre bodhirukkhamūle paṭhamābhisambuddho. Tena kho pana samayena bhagavā sattāhaṃ ekapallaṅkena nisinno hoti vimuttisukhapaṭisaṃvedī. Atha kho bhagavā tassa sattāhassa accayena tamhā samādhimhā vuṭṭhahitvā rattiyā majjhimaṃ yāmaṃ paṭiccasamuppādaṃ paṭilomaṃ sādhukaṃ manasākāsi –
‘‘Iti imasmiṃ asati idaṃ na hoti, imassa nirodhā idaṃ nirujjhati, yadidaṃ – avijjānirodhā saṅkhāranirodho, saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho, viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho, nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho, saḷāyatananirodhā phassanirodho, phassanirodhā vedanānirodho, vedanānirodhā taṇhānirodho, taṇhānirodhā upādānanirodho, upādānanirodhā bhavanirodho, bhavanirodhā jātinirodho, jātinirodhā jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī’’ti.
Atha kho bhagavā etamatthaṃ viditvā tāyaṃ velāyaṃ imaṃ udānaṃ udānesi –
‘‘Yadā have pātubhavanti dhammā,
Ātāpino jhāyato brāhmaṇassa;
Athassa kaṅkhā vapayanti sabbā,
Yato khayaṃ paccayānaṃ avedī’’ti. dutiyaṃ;

Bài Ba - (III) (Ud 2)

Như vầy tôi nghe:Một thời Thế Tôn ở Uruvelà, trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc cây Bồ-đề, khi mới chứng Chánh Ðẳng Giác. Lúc bấy giờ Thế Tôn trong bảy ngày, ngồi trong một thế ngồi Kiết-già, thọ hưởng lạc giải thoát. Rồi Thế Tôn, sau bảy ngày, ra khỏi định ấy, trong đêm canh cuối cùng, khéo thuận chiều và nghịch chiều tác ý lý duyên khởi: "Do cái này có mặt, cái kia hiện hữu. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không hiện hữu. Do cái này diệt, cái kia diệt". Tức là duyên vô minh có các hành. Duyên các hành có thức... Duyên sanh, có già chết, sầu bi khổ ưu não. Như vậy là tập khởi của khổ uẩn này. Do đoạn diệt, ly tham, vô minh không có dư tàn, nên các hành diệt. Do các hành diệt, nên thức diệt... Như vậy là đoạn diệt của khổ uẩn này".

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

3. Thật sự khi các pháp
 Có mặt, hiện khởi lên,
/Ðối với vị Bà-la-môn,
Nhiệt tâm hành thiền định,
Quét sạch các ma quân,
Vị ấy đứng, an trú,
Như ánh sáng mặt trời,
Chói sáng khắp hư không.

Chánh Văn Pali:


3. Tatiyabodhisuttaṃ
3. Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā uruvelāyaṃ viharati najjā nerañjarāya tīre bodhirukkhamūle paṭhamābhisambuddho. Tena kho pana samayena bhagavā sattāhaṃ ekapallaṅkena nisinno hoti vimuttisukhapaṭisaṃvedī. Atha kho bhagavā tassa sattāhassa accayena tamhā samādhimhā vuṭṭhahitvā rattiyā pacchimaṃ yāmaṃ paṭiccasamuppādaṃ anulomapaṭilomaṃ sādhukaṃ manasākāsi –
‘‘Iti imasmiṃ sati idaṃ hoti, imassuppādā idaṃ uppajjati, imasmiṃ asati idaṃ na hoti, imassa nirodhā idaṃ nirujjhati; yadidaṃ – avijjāpaccayā saṅkhārā, saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ, viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ, nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṃ, saḷāyatanapaccayā phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā, taṇhāpaccayā upādānaṃ, upādānapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
‘‘Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho, saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho, viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho, nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho, saḷāyatananirodhā phassanirodho, phassanirodhā vedanānirodho, vedanānirodhā taṇhānirodho, taṇhānirodhā upādānanirodho, upādānanirodhā bhavanirodho, bhavanirodhā jātinirodho, jātinirodhā jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī’’ti.
Atha kho bhagavā etamatthaṃ viditvā tāyaṃ velāyaṃ imaṃ udānaṃ udānesi –
‘‘Yadā have pātubhavanti dhammā,
Ātāpino jhāyato brāhmaṇassa;
Vidhūpayaṃ tiṭṭhati mārasenaṃ,
Sūriyova [suriyova (sī. syā. kaṃ. pī.)] obhāsayamantalikkha’’nti. tatiyaṃ;



II. Thảo Luận:   TT Giác Đẳng điều hợp.
1. xin cho biết cảm tưởng về tựa kinh "Phật Tự Thuyết" hay "Cảm Hứng Ngữ" - TT Pháp Tân
2 : Khi nói về nghiệp, quả, phiền não trong duyên khởi thì điều đó có ý nghĩa gì với người tu tập? - ĐĐ Pháp Tín
 3 : Tại sao nghi hoặc là một pháp ngăn ngại cho người tu tập? - ĐĐ Pháp Tín
4. Y cứ theo giáo lý duyên khởi thì nếu phiền não được đoạn tận thì "chúng ta sẽ đi về đâu"? - ĐĐ Pháp Tín

Saturday, January 3, 2015

Chương Trình Đặc Biệt Đầu Năm 2015

Chương Trình Đón Mừng Năm 2015

LÀM THẾ NÀO ĐỂ QUÂN BÌNH CUỘC SỐNG TRONG TƯƠNG LAI

1. Phải chăng con đường trung đạo của Phật Pháp nhấn mạnh yếu tính quân bình? - TT Tuệ Siêu
2.Người Phật tử sống thế nào gọi là quân bình, trung đạo? - TT Pháp Tân
3.Người Phật tử sống thế nào gọi là quân bình, trung đạo? - ĐĐ Pháp Tín
4. Làm sao để lo toan tiền bạc mà không bị nô lệ tiền bạc? - TT Tuệ Siêu
 5. Làm sao để lo toan tiền bạc mà không bị nô lệ tiền bạc? - TT Pháp Tân
6. Phải chăng Phật Pháp cũng khuyến khích "một thứ cảm xúc lành mạnh" thay vì chỉ đặt nặng lý tính?TT Tuệ Quyền





Friday, January 2, 2015

Chương Trình Đặc Biệt Đầu Năm 2015

Chương Trình Đặc Biệt Đón Mừng Năm 2015
1. Người Phật tử hoằng pháp như thế nào trong tương lai? - TT Giác Đẳng
2. Việc một người Phật tử từ nước ngoài về VN làm phước các chùa thường vinh danh rất nhiều về vị thí chủ. Việc này trên phương diện tâm lý có làm cho tâm người đó trong sạch không khi mà được đề cao danh tánh của mình? - TT Tuệ Quyền
3. Người Phật tử hoằng pháp như thế nào trong tương lai? - TT Giác Đẳng
4. Với sự hoằng pháp qua phương tiện truyền thông như TV, hoặc qua máy vi tính, qua điện thoại thông minh thay vi có sự hiện diện đối mặt có sự cung kính. Thì có mất đi tánh chất Phật giáo trong cộng đồng Phật giáo hay không? - TT Pháp Tân
5. Người Phật tử thể hiện từ tâm như thế nào trong tương lai? - TT Giác Đẳng
6. Với cuộc sống bận rộn hiện nay khiến cho chúng ta bị vô cảm hay là thiếu vắng tâm từ và tâm bị. Chúng ta phải làm sao để có thể có tâm từ và tâm bi trong mọi hoàn cảnh? - ĐĐ Pháp Tín




Thursday, January 1, 2015

Chương Trình Đặc Biệt Đầu Năm 2015

Chương Trình Đặc Biệt Đón Mừng Năm 2015

1. Người Phật tử học Phật Pháp bằng cách nào? - TT Giác Đẳng
2. Việc học Phật Pháp của người Phật tử trong tương lai trước đà phát triển của thế giới có gì khác không? - TT Tuệ Siêu
3. Năm điểm học Phật Pháp trong năm tới - TT Giác Đẳng
4. Người Phật tử sẽ tu như thế nào? - TT Giác Đẳng
5. Trong thời đại mới người Phật tử tu như thế nào? - TT Tuệ Siêu
6. Trong tương lai người Phật tử đi tìm sự thanh tịnh, an lạc có còn giống như xưa? - TT Tuệ Siêu
7. Trong tương lai người Phật tử đi tìm sự thanh tịnh, an lạc có còn giống như xưa? - TT Giác Đẳng
8. Trong tương lai chúng ta sẽ đối phó thế nào trước những bất trắc? TT Tuệ Siêu