Friday, November 11, 2016

Bài học. Thứ Sáu ngày 11-11-2016

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư: ĐĐ Pháp Tín

Chương Năm Pháp
I. Phẩm Sức Mạnh Hữu Học

(II) (2) Rộng Rãi

1. - Này các Tỷ-kheo, có năm sức mạnh này của bậc Hữu học. Thế nào là năm? Tín lực, tàm lực, quý lực, tinh tấn lực, tuệ lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tín lực?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng tin, tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai: "Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn". Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là tín lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tàm lực?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng hổ thẹn, hổ thẹn đối với thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, hổ thẹn đối với các pháp ác, bất thiện được thực hiện. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là tàm lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là quý lực?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng sợ hãi, sợ hãi đối với thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, sợ hãi đối với các pháp ác, bất thiện được thực hiện. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là quý lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tinh tấn lực?

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sống tinh cần tinh tấn, từ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì tinh tấn, không từ bỏ gánh nặng đối với thiện pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là tinh tấn lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tuệ lực?

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, với sự thể nhập bậc Thánh vào con đường đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ lực.

Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm sức mạnh của bậc Hữu học. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau:

7. "Ta sẽ thành tựu tín lực, được gọi là hữu học lực... tàm lực... quý lực... tinh tấn lực... ta sẽ thành tựu tuệ lực, được gọi là hữu học lực". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.


II. Thảo Luận:   TTGiác Đẳng điều hợp.




 III. Trắc Nghim

Wednesday, November 9, 2016

Bài học. Thứ Năm ngày 10-11-2016

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư: TT Tuệ Siêu

Chương Năm Pháp
I. Phẩm Sức Mạnh Hữu Học

(I) (1) Tóm Lược

1. Như vậy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi tại Jetavana, vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

2. - Này các Tỷ-kheo, có năm sức mạnh này, cuả bậc Hữu học. Thế nào là năm? Tín lực, tàm lực, quý lực, tinh tấn lực, tuệ lực. Này các Tỷ-kheo, có năm sức mạnh này của bậc hữu học.

Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau:

3. "Tôi sẽ thành tựu tín lực, được gọi là hữu học lực. Tôi sẽ thành tựu tàm lực, được gọi là hữu học lực. Tôi sẽ thành tựu quý lực, được gọi là hữu học lực. Tôi sẽ thành tựu tinh tấn lực, được gọi là hữu học lực. Tôi sẽ thành tựu tuệ lực, được gọi là hữu học lực". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

(II) (2) Rộng Rãi

1. - Này các Tỷ-kheo, có năm sức mạnh này của bậc Hữu học. Thế nào là năm? Tín lực, tàm lực, quý lực, tinh tấn lực, tuệ lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tín lực?

2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng tin, tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai: "Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn". Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là tín lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tàm lực?

3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng hổ thẹn, hổ thẹn đối với thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, hổ thẹn đối với các pháp ác, bất thiện được thực hiện. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là tàm lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là quý lực?

4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có lòng sợ hãi, sợ hãi đối với thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, sợ hãi đối với các pháp ác, bất thiện được thực hiện. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là quý lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tinh tấn lực?

5. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử sống tinh cần tinh tấn, từ bỏ các pháp bất thiện, thành tựu các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì tinh tấn, không từ bỏ gánh nặng đối với thiện pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là tinh tấn lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tuệ lực?

6. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, với sự thể nhập bậc Thánh vào con đường đoạn tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ lực.

Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm sức mạnh của bậc Hữu học. Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau:

7. "Ta sẽ thành tựu tín lực, được gọi là hữu học lực... tàm lực... quý lực... tinh tấn lực... ta sẽ thành tựu tuệ lực, được gọi là hữu học lực". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.


II. Thảo Luận:   TTGiác Đẳng điều hợp.




 III. Trắc Nghim

Tuesday, November 8, 2016

Bài học. Thứ Tư ngày 9-11-2016

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư: TT Pháp Đăng

Chương Bốn Pháp
XXVIII. Phẩm Tham

(I) (271) Tham

1. - Ðể thắng tri tham, này các Tỷ-kheo, bốn pháp cần phải tu tập. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống tùy quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; tùy quán thọ trên các cảm thọ ... tùy quán tâm trên tâm ... tùy quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.

Ðể thắng tri tham, này các Tỷ-kheo, bốn pháp cần phải tu tập.

2. - Ðể thắng tri tham, này các Tỷ-kheo, bốn pháp cần phải tu tập. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các pháp ác bất thiện chưa sanh, khởi lên ý muốn cố gắng; tinh tấn, sách tâm, trì tâm không cho sanh khởi; đối với các pháp ác bất thiện đã sanh, khởi lên ý muốn cố gắng; tinh tấn, sách tâm, trì tâm khiến chúng đoạn tận; đối với các pháp thiện chưa sanh, khởi lên ý muốn cố gắng; tinh tấn, sách tâm, trì tâm khiến cho sanh khởi; đối với các pháp thiện đã sanh, khởi lên ý muốn cố gắng; tinh tấn, sách tâm, trì tâm khiến chúng được duy trì, không có lu mờ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được thỏa mãn. Này các Tỷ-kheo, để thắng tri tham, bốn pháp này cần phải tu tập.

3. Ðể thắng tri tham, này các Tỷ-kheo, bốn pháp cần phải tu tập. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc, thành tựu với dục Thiền định tinh cần hành; tu tập như ý túc, thành tựu với tinh tấn Thiền định tinh cần hành; tu tập như ý túc, thành tựu với tâm Thiền định tinh cần hành; tu tập như ý túc, thành tựu với tư duy Thiền định tinh cần hành.

Ðể thắng tri tham, này các Tỷ-kheo, bốn pháp cần phải tu tập.

4. Ðể liễu tri, này các Tỷ-kheo, để đoạn diệt, đoạn tận, trừ diệt, tiêu diệt, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, xả bỏ tham, bốn pháp này cần phải tu tập.

Ðể liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận, trừ diệt, tiêu diệt, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ, xả bỏ sân... si... phẫn nộ... hiềm hận... gièm pha... nhiệt não... tật đố... xan tham... man trá... xảo trá... ngoan cố... bồng bột... mạn... quá mạn... say mê... phóng dật, bốn pháp này cần phải tu tập.


II. Thảo Luận:   TTGiác Đẳng điều hợp.



 III. Trắc Nghim

Bài học. Thứ Ba ngày 8-11-2016

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư: TT Tuệ Quyền

Chương Bốn Pháp
XXVI. Phẩm Thắng Trí

(I) (261) Chấp Nhận (1)

1.- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là với bốn pháp?

Tự mình sát sanh, khích lệ người khác sát sanh, chấp nhận sát sanh và tán thán sát sanh.

Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.

2.- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên cõi Trời. Thế nào là với bốn pháp?

Tự mình từ bỏ sát sanh, khích lệ người khác từ bỏ sát sanh, chấp nhận từ bỏ sát sanh và tán thán từ bỏ sát sanh.

Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên cõi Trời.

(II) (262) Chấp Nhận (2)

(Như trên, pháp ở đây là "lấy của không cho và từ bỏ lấy của không cho").

(III) (263) Chấp Nhận (3)

(Như trên, pháp ở đây là "tà hạnh trong các dục và từ bỏ tà hạnh trong các dục").

(IV) (264) Chấp Nhận (4)

(Như trên, pháp ở đây là "nói láo và từ bỏ nói láo").

(V) (265) Chấp Nhận (5)

(Như trên, pháp ở đây là "tự mình nói hai lưỡi và từ bỏ nói hai lưỡi").

(VI) (266) Chấp Nhận (6)

(Như trên, pháp ở đây là "tự mình nói lời thô ác và từ bỏ nói lời thô ác").

(VII) (267) Chấp Nhận (7)

(Như trên, pháp ở đây là "tự mình nói lời phù phiếm và từ bỏ nói lời phù phiếm").

(VIII) (268) Chấp Nhận (8)

(Như trên, pháp ở đây là "tự mình tham dục và tự mình không tham dục").

(IX) (269) Chấp Nhận (9)

(Như trên, pháp ở đây là "tự mình có tâm sân hận và tự mình không có tâm sân hận").

(X) (270) Chấp Nhận (10)

1.- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục. Thế nào là với bốn pháp?

Tự mình có tà kiến, khích lệ người khác có tà kiến, chấp nhận tà kiến và tán thán tà kiến.

Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng bị rơi vào địa ngục.

2.- Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên cõi Trời. Thế nào là với bốn pháp?

Tự mình có chánh kiến, khích lệ người khác có chánh tri kiến, chấp nhận chánh tri kiến và tán thán chánh tri kiến.

Thành tựu với bốn pháp, này các Tỷ-kheo, như vậy tương xứng được sanh lên cõi Trời.

II. Thảo Luận:   TTGiác Đẳng điều hợp.

Thảo luận 1. Chữ "nghiệp đạo - kammapatha" ở đây có ý nghĩa thế nào? TT Pháp Tân 
Thảo luận 2. Chấp nhận (samanuñña) ác hạnh ở trong bài kinh nầy là thái độ từ tà kiến? từ sự nhẫn tâm? từ sự tham cầu? TT Tuệ Quyền
Thảo luận 3. Chữ xúi dục (samādapeti) (trong bản dịch dùng chữ khích lệ) khác biệt với khen ngợi (vaṇṇaṃ bhāsati) thế nào?
Thảo luận 4. Chữ niraya (dịch là địa ngục) và chữ sagga (dịch là cõi trời) trong bài kinh nầy có đồng nghĩa với "cảnh giới khổ đau" và "cảnh giới an lạc" chăng?


 III. Trắc Nghim
Trắc nghiệm 1. Nội dung bài học hôm nay bao gồm điều nào dưới đây? 
A. Hành động có chủ tâm
/ B. Hành động tạo quả /
 C. Quả lớn nhất của ác nghiệp là dẫn vào địa ngục 
/ D. Cả ba điều trên 

ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án Câu Số 1 :  D


Monday, November 7, 2016

Bài học.Thứ Hai ngày 7-11-2016

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư:  TT Giác Đẳng

Chương Một Pháp
XIV. Phẩm Người Tối Thắng

1-13 Nữ Ðệ Tử Tỷ Kheo Ni

1. Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni đã lâu ngày của Ta, tối thắng là Màhàpàjapati Gotamì.

2. Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta đại trí tuệ, tối thắng là Khemà.

3. Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni  của Ta đầy đủ thần thông, tối thắng là Uppalavannà.

4. Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni  của Ta trì Luật, tối thắng là Patàcàrà.

5. Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni  của Ta thuyết pháp, tối thắng là Dhammadinnà.

6. Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni  của Ta tu Thiền, tối thắng là Nandà.

7. Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni  của Ta tinh cần tinh tấn, tối thắng là Sonà.

8. Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni  của Ta thiên nhãn, tối thắng là Sakulà.

9. Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni  của Ta có thắng trí mau lẹ, tối thắng là Bhaddà Kundalakesà.

10. Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni  của Ta. nhớ đến các thời quá khứ, tối thắng là Bhaddà Kapilànì.

11.Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni  của Ta đã chứng đạt đại thắng trí, tối thắng là Bhaddà Kaccana.

12. Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni  của Ta mang thô y, tối thắng là Kisàgotami.

13. Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta, đầy đủ tin thắng giải, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Sigalàmàtà.


II. Thảo Luận:   TT Giác Đẳng điều hợp.
Thảo luận 1. Hỗ trợ cho người khác tu tập đến mức độ hy sinh nhiều ở bản thân thì có huân tập ba la mật hạnh chăng? TT Tuệ Siêu
Thảo luận  2. Có đúng chăng khi nói là "theo Phật Pháp thì sanh làm nữ nhân là thiếu phước"? TT Tuệ Siêu 
Thảo luận 3. Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình  khi xuất gia thì thay đổi thế nào? - ĐĐ Pháp Tín




 III. Trắc Nghim
Trắc nghiệm 1. Chi tiết nào sau đây đúng khi nói về thánh ni Bhaddhakaccanà? 
A. Được Đức Thế Tôn Dipankara (Nhiên Đăng) tiên tri sẽ là bạn đồng hành nhiều kiếp của đức Đại Bồ Tát về sau thành Phật Gotama 
/ B. Sanh ra một ngày với thái tử Sĩ Đạt Ta 
/ C. Từng "cải gia vi tự" sống thanh tu suốt thời gian Đức Bồ Tát tu khổ hạnh 
/ D. Cả ba chi tiết trên đều đúng

TT PháĐăng cho đáp án là D

Trắc nghiệm 2.   Chi tiết nào sau đây đúng khi nói về thánh ni Bhaddhakaccanà?
 A. Đã từng quyết định không đến gặp Đức Phật vì nghĩ rằng "mình là người chu toàn bổn phận, không lầm lỗi gì" 
/ B. Từng bị bệnh và nhận sự giúp đỡ của tôn giả Rahula, tôn giả Sariputta , vua Pasenadi 
/ C. Viên tịch Niết bàn năm 78 tuổi
 / D. Cả ba câu trên đều đúng


TT Tuệ Quyn cho đáán câu 2 là D

Trắc nghiệm 3. Điều nào sau đây có thể gọi là cần thiết khi hỗ trợ người thân tu tập?
 A. Hy sinh bản thân 
/ B. Ý thức được giá trị cao quý với sự tu tập 
/ C. Cần thấy Phật Pháp quan trọng hơn tình cảm cá nhân 

/ D. Cả ba câu trên đều đúng
ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án câu 3 là D


Sunday, November 6, 2016

Bài học. Chủ Nhật ngày 6-11-2016

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư: TT Tuệ Siêu

Chương Bốn Pháp
XXVI. Phẩm Thắng Trí

(X) (260) Hành Ðộng

1. - Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu si, không thông minh, không là bậc Chân nhân, tự mình xử sự như kẻ bị mất gốc, không sinh lực, có tội, bị người trí quở trách, tạo nhiều vô phước. Thế nào là bốn?

Với thân nghiệp có tội, với khẩu nghiệp có tội, với ý nghiệp có tội, với tri kiến có tội.

Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu si, không thông minh, không là bậc Chân nhân, tự mình xử sự như kẻ bị mất gốc, không sinh lực, có tội, bị người trí quở trách, tạo nhiều vô phước.

2. Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, bậc Hiền trí, thông minh, là bậc Chân nhân, tự mình xử sự không như người mất gốc, có sinh lực, không có tội, không bị người trí quở trách, và tạo nhiều phước đức. Thế nào là bốn?

Với thân nghiệp không có tội, với ngữ nghiệp không có tội, với ý nghiệp không có tội, với tri kiến không có tội.

Thành tựu với bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, bậc Hiền trí, thông minh, là bậc Chân nhân, tự mình xử sự không như người mất gốc, có sinh lực, không có tội, không bị người trí quở trách, tạo nhiều phước đức.


II. Thảo Luận:   TTGiác Đẳng điều hợp.
Thảo luận 1. Từ ngữ mất gốc (khata) ở đây nên hiểu thế nào? TT Pháp Tân 
Thảo luận 2. Chữ upahata (ở đây dịch là không có sinh lực) có thể được dịch là tự mình tổn hại, tổn đức? TT Pháp Đăng
 Thảo luận 3. "Bị người thiện trí quở trách (sānuvajjo viññūnaṃ) điều nầy có ý nghĩa thế nào với người Phật tử? ĐĐ Pháp Tín
Thảo luận 4. Tại sao đã có từ "có tội, đáng khiển trách (sàvajjo) lại còn có thêm điều  "Bị người thiện trí quở trách (sānuvajjo viññūnaṃ)"? ĐĐ Nguyên Thông
Thảo luận 5: "Tích tập nhiều điều phi công đức (bahuñca apuññaṃ pasavati)" được nhận thức ra sao trong đời sống hằng ngày? TT Pháp Tân 




 III. Trắc Nghim