Friday, July 7, 2017

Bài học. Thứ Sáu ngày 7-7-2017

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư:   ĐĐ Pháp Tín

Chương 6

IV. Phẩm Chư Thiên


(XII) (42) Tôn Giả Nagita

1. Như vậy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn đang bộ hành giữa các người Kosala, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến một làng Bà-la-môn tên là Icchànangala. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Icchànangala, trong khóm rừng Icchànangala. Các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangala được nghe: "Tôn giả Gotama là Thích tử, xuất gia từ gia đình họ Thích, đã đến Icchànangala, trú ở Icchànangaka trong khóm rừng Icchànagala. Về Tôn giả Gotama ấy, tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi: "Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Phạm thiên giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và Người. Sau khi đã chứng ngộ, Ngài tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ, Ngài thuyết pháp điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ trong sạch". Tốt đẹp thay, sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy! ". Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangala, sau khi đêm ấy đã mãn, cầm theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm, đi đến khóm rừng Icchànangala, sau khi đến, đứng ở ngoài cổng vào, cao tiếng và lớn tiếng.

2. Lúc bấy giờ, Tôn giả Nàgita là thị giả của Thế Tôn. Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Nàgita:

- Này Nàgita, những ai đã cao tiếng và lớn tiếng như những người đánh cá đang giết hại cá?

- Các người ấy, bạch Thế Tôn, là các Bà-la-môn gia chủ trú ở Icchànangala đang đứng ở khu viên cổng ngoài, đem theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm cho Thế Tôn và chúng Tăng.

- Này Nàgita, Ta không có liên hệ gì với danh vọng và danh vọng không có liên hệ gì với Ta, Này Nàgita, những ai tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, mà Ta đã tìm được không khó khăn, tìm được không mệt nhọc, tìm được không phí sức, hãy để họ thọ hưởng lạc như phân ấy, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc.

- Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy chấp nhận! Thiện Thệ hãy chấp nhận! Nay Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy các Bà-la-môn gia chủ ở thị trấn và ở quốc độ cũng sẽ đi đến với tâm hướng về cúng dường. Ví như trời mưa nặng hột, và nước được chảy tùy theo chiều dốc; cũng vậy, bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy các Bà-la-môn gia chủ ở thị trấn và ở quốc độ cũng sẽ đi đến, với tâm hướng về cúng dường. Vì cớ sao? Bạch Thế Tôn do vì giới hạnh và trí tuệ của Thế Tôn!

- Này Nàgita, Ta không có liên hệ gì với danh vọng và danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Này Nàgita, những ai tìm được có khó khăn, tìm được có mệt nhọc, tìm được có phí sức an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc mà Ta đã tìm được không khó khăn, tìm được không mệt nhọc, tìm được không phí sức, hãy để họ thọ hưởng lạc như phân ấy, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc.

3. Ở đây, này Nàgita, Ta thấy một Tỷ-kheo ngồi Thiền định tại trú xứ ở cuối làng. Này Nàgita, về vị ấy, Ta suy nghĩ như sau: "Nay có người coi khu vườn hay người Sa-di phá phách vị Tỷ-kheo này, làm cho vị này xuất khỏi thiền định". Do vậy, này Nàgita, Ta không có hoan hỷ với trú xứ của vị ấy.

4. Ở đây, này Nàgita, Ta thấy một Tỷ-kheo đang ngồi ngủ ngục ở trong rừng. Này Nàgita, Ta suy nghĩ về vị ấy như sau: "Nay vị Tỷ-kheo này, sau khi đoạn trừ ngủ nghỉ và mệt nhọc, sẽ tác ý tưởng về rừng đạt được nhất tâm". Do vậy, nầy Nàgita, ta hoan hỷ với trú xứ tại rừng của Tỷ-kheo ấy.

5. Ở đây, này Nàgita, Ta thấy Tỷ-kheo sống ở rừng, ngồi không Thiền định trong rừng. Này Nàgita, đối với vị ấy, Ta suy nghĩ: "Nay Tỷ-kheo này sẽ Thiền định được tâm không Thiền định, hay sẽ bảo vệ tâm đã được Thiền định". Do vậy, này Nàgita. Ta hoan hỷ về trú xứ tại rừng của Tỷ-kheo ấy.

6. Ở đây, này Nàgita, Ta thấy Tỷ-kheo sống ở rừng ngồi với tâm Thiền định ở rừng. này Nàgita, đối với vị ấy, Ta suy nghĩ: "Nay Tỷ-kheo này sẽ giải thoát, tâm chưa được giả thoát hay sẽ bảo vệ tâm sẽ được giải thoát". Do vậy, này Nàgita, Ta hoan hỷ về trú xứ tại rừng của Tỷ-kheo ấy.

7. Ở đây, này Nàgita, Ta thấy Tỷ-kheo sống ở cuối làng, nhận được vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, thích thú với các lợi dưỡng, cung kính, danh văn ấy, bỏ phế thiền tịnh, bỏ phế các trú xứ rừng núi cao nguyên xa vắng, đi xuống làng, thị trấn, kinh đô để lo nuôi sống. Do vậy, này Nàgita, Ta không có hoan hỷ về trú xứ cuối làng của Tỷ-kheo ấy.

8. Ở đây, này Nàgita, Ta thấy Tỷ-kheo sống ở rừng nhận được các vật dụng cần thiết như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, nhưng chận đứng các lợi dưỡng, cung kính, danh văn ấy, không bỏ phế Thiền tịnh, không bỏ phế các trú xứ rừng núi cao nguyên xa vắng. Do vậy, này Nàgita, Ta hoan hỷ về trú xứ tại rừng của Tỷ-kheo ấy.

Nhưng khi Ta đang bước đi trên con đường, trước mặt, Ta không thấy ai; sau lưng, Ta không thấy ai; trong khi ấy, Ta cảm thấy an ổn, này Nàgita, cho đến vấn đề đi đại, tiểu tiện.



III Thảo luận TT Giác Đẳng điều hợp

Thảo luận 1. Ngày nay đa số chùa chiền đều xem lễ lộc đông đảo huyên náo là biểu hiện của sự hưng thạnh. Cái nhìn đó có gì phù hợp hay không phù hợp với quan niệm truyền thống về sự yên tịnh của các tu viện? TT Tuệ Siêu

Thảo luận 1. Ngày nay đa số chùa chiền đều xem lễ lộc đông đảo huyên náo là biểu hiện của sự hưng thạnh. Cái nhìn đó có gì phù hợp hay không phù hợp với quan niệm truyền thống về sự yên tịnh của các tu viện? TT Tuệ Siêu


Thảo luận 2. Phải chăng sự an tịnh là môi trường thích hợp nhất để tu tập tâm ý? - TT Pháp Tân


 III. Trắc Nghiệm

Trắc nghiệm 1. Đức Phật nhấn mạnh yếu tố an tịnh trong sinh hoạt chùa chiền vì lý do nào sau đây? 
A. An tịnh là môi trường tốt cho sự tu tập nội tâm -một trọng tâm của sự thực hành Phật Pháp - mà Đức Phật truyền dạy /
 B. Ồn ào huyên náo thường chỉ thích hợp cho người hướng ngoại và phóng dật / 
C. Cả hai câu trên đều đúng /
 D. Cả hai câu trên đều sai

TT Tuệ Quyền cho đáp án câu 1 là A

 Trắc nghiệm 2. Sự an tịnh thường giúp ích cho chúng ta ở trường hợp nào sau đây? 
A. Bớt căng thẳng (stress) / 
B. Dễ sống với chính mình / 
C. Thích hợp cho sự tập trung (định) và tỉnh giác (niệm) / 
D. cả ba điều trên


ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án câu 2 là D

Thursday, July 6, 2017

Bài học. Thứ Năm ngày 6-7-2017

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư:   TT Tuệ Siêu

Chương 6

IV. Phẩm Chư Thiên

(XI) (41) Ðống Gỗ

1. Như vầy tôi nghe:

Một thời, Tôn giả Sàriputta trú ở Ràjagaha, tại núi Gijjhakùta. Rồi Tôn giả Sàriputta, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát cùng với số đông Tỷ-kheo, từ núi Gijjhakùta đi xuống. Tôn giả thấy tại một chỗ nọ, một đống gỗ to lớn, thấy vậy liền nói với các Tỷ-kheo:

- Này các Hiền giả, các Hiền giả có thấy đống gỗ to lớn ấy không?

- Thưa Hiền giả, có thấy.

2. - Nếu muốn, này các Hiền giả, một Tỷ-kheo có thần không, đạt được tâm tự tại có thể quán (Tập Sớ Sallakkheyya: Thắng giải, thiên về, hướng về) đống gỗ ấy thành địa đại. Vì cớ sao? Vì rằng có địa giới trong đống gỗ lớn ấy, y tựa theo đó, Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại có thể quán đống gỗ ấy thành địa đại.

3. Nếu muốn, này các Hiền giả, Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại, có thể quán đống gỗ lớn ấy thành nước... thành lửa... thành gió... thành tịnh... thành bất tịnh. Vì cớ sao? Vì rằng có bất tịnh trong đống gỗ lớn ấy, y tựa theo đó, Tỷ-kheo có thần thông, đạt được tâm tự tại, có thể quán đống gỗ ấy thành bất tịnh.


III Thảo luận TT Giác Đẳng điều hợp


 III. Trắc Nghiệm

Trắc nghiệm 1. Điều nào sau đây về "năng lực rộng lớn" là có thể xẩy ra? 
A. Động đất ở Nhật Bản tạo nên sóng thần ở Nam Cực / 
B. Một sự việc lôi thôi trên chuyến bay làm cổ phiếu hãng máy bay mất giá gần một tỷ Mỹ Kim /
 C. Nỗi buồn trên lưng ngựa của Đại đế Asoka làm thay đổi cả lịch sử Đạo Phật /
 D. Cả ba điều trên

TT Pháp Đăng cho đáp án câu 1 là D

 Trắc nghiệm 2. Theo tôn giả Sàrìputta thì một đống gỗ có thể biến thành đại địa vì những thành tố nào sau đây?
 A. Một nội tâm có định lực tam muội /
 B. Trong đống gỗ có nguyên tố địa đại /
 C. Ý muốn của một người "có tâm tự tại" /
 D. Cả ba điều trên

TT Tuệ Quyền cho đáp án Câu Số 2: D.

Trắc nghiệm 3. Điều nào sau đây đúng theo Phật học? 
A. Vũ trụ không được nói là hữu hạn hay vô hạn /
 B. Thế giới vật chất bao la bị chi phối bởi nghiệp lực /
 C. Nghiệp lực bất khả tư nghì bị chi phối bởi tâm lực /
 D. Cả ba câu trên đều đúng

ĐĐ Pháp Tín cho đáp án Câu Số 3 : D .


Trắc nghiệm 4. Điều nào sau đây được xác nhận trong Phật Pháp?
 A. Thế giới vật chất tồn tại khách quan có trước và độc lập với ý thức con người / 
B. Thế giới vật chất sanh khởi và tồn tại HOÀN TOÀN do tâm thức biến hiện (Tâm như người thợ vẽ, hay vẽ ra ngũ uẩn, và các pháp thế gian, tất cả do tâm sinh) /
 C. Vật chất sanh khởi cho nghiệp, tâm, thời tiết, và dưỡng tố /
D. Tất cả do thượng đế tạo nên


ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án Câu Số 4: B .
TT Giác Đẳng cho đáp án Câu Số 4: C

Trắc nghiệm 5. Điều nào sau đây được tìm thấy trong tam tạng kinh điển? 
A. Ý nghiệp mạnh hơn thân nghiệp, khẩu nghiệp / 
B. Tâm khéo tu tập có lợi ích lớn lao khôn cùng / 
C. Tâm dẫn đầu tất cả hiện tượng nhân quả, vui khổ; tâm là chủ, tâm tạo tác /
 D. Cả ba câu trên đều đúng

TT Pháp Đăng cho đáp án Câu Số 5: D

Wednesday, July 5, 2017

Bài học. Thứ Tư ngày 5-7-2017

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư:   TT Giác Đẳng

Chương 6

IV. Phẩm Chư Thiên

(X) (40) Tôn Giả Kimbila

1. Như vầy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn trú ở Kimbila, tại rừng Trúc. Rồi Tôn giả Kimbila đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kimbila bạch Thế Tôn:

2. - Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, sau khi Như Lai nhập diệt, diệu pháp không còn tồn tại lâu dài?

3. - Ở đây, này Kimbila, khi Như Lai nhập diệt, các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống không cung kính, không tùy thuận bậc Ðạo sư, sống không cung kính, không tùy thuận Pháp; sống không cung kính, không tùy thuận chúng Tăng; sống không cung kính, không tùy thuận học pháp; sống không cung kính, không tùy thuận không phóng dật; sống không cung kính, không tùy thuận tiếp đón. Này Kimbila, đây là nhân, đây là duyên khiến cho khi Như Lai nhập diệt, Diệu pháp không tồn tại lâu dài.

4. - Do nhân gì, do duyên gì khi Như Lai nhập diệt, Diệu pháp được tồn tại lâu dài?

5. Ở đây, này Kimbila, khi Thế Tôn nhập diệt, các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống cung kính tùy thuận bậc Ðạo Sư; sống cung kính tùy thuận Pháp; sống cung kính tùy thuận chúng Tăng; sống cung kính tùy thuận học pháp; sống cung kính tùy thuận không phóng dật; sống cung kính tùy thuận tiếp đón. Ðây là nhân, đây là duyên, khi Như Lai nhập diệt, Diệu pháp được tồn tại lâu dài.

III Thảo luận TT Giác Đẳng điều hợp

Thảo luận 1. Phật giáo Mật tông Tây Tạng nói về Tứ Bảo thay vì Tam Bảo có nghĩa là ngoài Phật, Pháp, Tăng còn có đạo sư (guru). Phật giáo Nguyên Thủy dạy vì về điều nầy? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 2. Nhiều người quan niệm rằng lòng cung kính khiến cho người ta có khoảng cách, không thân thiện gần gủi, khách sáo kém thân tình. Quan niệm như vậy có hoàn toàn chính xác chăng? - ĐĐ Pháp Tín

Thảo luận 3. Nhiều người biết đến sự cung kính qua lời nói nhưng nếu gọi là cung kính thể hiện qua hành động thì thế nào? - ĐĐ Nguyên Thông

Thảo luận 3 Nhiều người biết đến sự cung kính qua lời nói nhưng nếu gọi là cung kính thể hiện qua hành động thì thế nào? - TT Tuệ Siêu



 III. Trắc Nghiệm

Trắc nghiệm 1. Điều nào sau đây liên hệ tới ý nghĩa của sự cung kính (sagāravā)? 
A. Cảm nhận chân thật giá trị / 
B. Trân trọng /
 C. Tìm thấy sự lợi lạc từ đó /
 D. Cả ba điều trên

TT Pháp Đăng cho đáp án câu 1 là D

Trắc nghiệm 2. Điều nào sau đây cho thấy thái độ thiếu tôn kính Phật vì bảo là Phật nói điều Ngài không nói?
 A. Có người kể rằng Đức Phật hỏi một đạo sĩ có thể bay ngang sông bằng thần thông mất bao nhiêu năm tu luyện; vị đạo sĩ trả lời mất 20 năm công phu; Đức Phật dạy Như lai chỉ cần 10 xu có thể qua đò /
 B. Có người kể rằng một người hỏi Phật ngồi thiền được lợi ích gì; Đức Phật trả lời là khồng lợi ích gì vì còn mong cầu là còn tham chấp  / 
 C. Có người kể là Đức Phật thấy đống xương khô liền quỳ xuống lạy và dạy rằng tất cả chúng sanh đều là cha mẹ mình dù không phải là đời nầy thì cũng từng là cha mẹ trong đời quá khứ /
 D. Cả ba chuyện trên đêu là hậu tác không phải là lời Phật dạy


TT Tuệ Siêu cho đáp án câu 2 là D

Tuesday, July 4, 2017

Bài học. Thứ Ba ngày 4-7-2017

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư:  Không có Giảng Sư, đạo tràng để băng giảng 

Chương 6

IV. Phẩm Chư Thiên

(X) (40) Tôn Giả Kimbila

1. Như vầy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn trú ở Kimbila, tại rừng Trúc. Rồi Tôn giả Kimbila đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kimbila bạch Thế Tôn:

2. - Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, sau khi Như Lai nhập diệt, diệu pháp không còn tồn tại lâu dài?

3. - Ở đây, này Kimbila, khi Như Lai nhập diệt, các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống không cung kính, không tùy thuận bậc Ðạo sư, sống không cung kính, không tùy thuận Pháp; sống không cung kính, không tùy thuận chúng Tăng; sống không cung kính, không tùy thuận học pháp; sống không cung kính, không tùy thuận không phóng dật; sống không cung kính, không tùy thuận tiếp đón. Này Kimbila, đây là nhân, đây là duyên khiến cho khi Như Lai nhập diệt, Diệu pháp không tồn tại lâu dài.

4. - Do nhân gì, do duyên gì khi Như Lai nhập diệt, Diệu pháp được tồn tại lâu dài?

5. Ở đây, này Kimbila, khi Thế Tôn nhập diệt, các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống cung kính tùy thuận bậc Ðạo Sư; sống cung kính tùy thuận Pháp; sống cung kính tùy thuận chúng Tăng; sống cung kính tùy thuận học pháp; sống cung kính tùy thuận không phóng dật; sống cung kính tùy thuận tiếp đón. Ðây là nhân, đây là duyên, khi Như Lai nhập diệt, Diệu pháp được tồn tại lâu dài.

III Thảo luận TT Giác Đẳng điều hợp



 III. Trắc Nghiệm

Monday, July 3, 2017

Bài học. Thứ Hai ngày 3-7-2017

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư:  TT Giác Đẳng

Chương 6

IV. Phẩm Chư Thiên

(IX) (39) Nhân Duyên

1. - Có ba nhân duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến các nghiệp khởi lên. Thế nào là ba?

2. Tham là nhân duyên khiến các nghiệp khởi lên. Sân là nhân duyên khiến các nghiệp khởi lên. Si là nhân duyên khiến các nghiệp khởi lên. Này các Tỷ-kheo, không phải từ tham, không tham khởi lên. Này các Tỷ-kheo, chính từ tham, chỉ có tham khởi lên. Này các Tỷ-kheo, không phải từ sân, không sân khởi lên. Này các Tỷ-kheo, chính từ sân, chỉ có sân khởi lên. Này các Tỷ-kheo, không phải từ si, không si khởi lên. Này các Tỷ-kheo, chính từ si, chỉ có si khởi lên. Này các Tỷ-kheo, không phải do nghiệp từ tham sanh, không phải do nghiệp từ sân sanh, không phải do nghiệp từ si sanh, chư Thiên được nêu rõ, loài Người được nêu rõ, hay những loài khác đang ở trong thiện thú. Này các Tỷ-kheo, chính do nghiệp từ tham sanh, chính do nghiệp từ sân sanh, chính do nghiệp từ si sanh, địa ngục được nêu rõ, các loài bàng sanh được nêu rõ, các loại ngạ quỷ được nêu rõ, và các loài khác đang ở trong ác thú.

Ðây là ba nhân duyên, này các Tỷ-kheo, khiến các nghiệp khởi lên.

3. Có ba nhân duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến các nghiệp khởi lên. Thế nào là ba?

4. Không tham là nhân duyên khiến các nghiệp khởi lên, không sân là nhân duyên khiến các nghiệp khởi lên, không si là nhân duyên khiến các nghiệp khởi lên. Không phải từ không tham, tham khởi lên. Này các Tỷ-kheo, chính từ không tham, chỉ có không tham khởi lên. Này các Tỷ-kheo, không phải từ không sân, sân khởi lên. Này các Tỷ-kheo, chính từ không sân, chỉ có không sân khởi lên. Này các Tỷ-kheo, không phải từ không si, si khởi lên. Này các Tỷ-kheo, chính từ không si, chỉ có không si khởi lên. Này các Tỷ-kheo, không phải do nghiệp từ không tham sanh, không phải do nghiệp từ không sân sanh, không phải do nghiệp từ không sân sanh, địa ngục được nêu rõ, loài bàng sanh được nêu rõ, cõi ngạ quỹ được nêu rõ, và các loài khác đang ở trong ác thú. Nhưng này các Tỷ-kheo, chính do nghiệp từ không tham sanh, chính do nghiệp từ không sân sanh, chính do nghiệp từ không si sanh, chư Thiên được nêu rõ, loài Người được nêu rõ, và các loài khác đang ở trong thiện thú.

Ðây là ba nhân duyên, này các Tỷ-kheo, khiến các nghiệp khởi lên.


III Thảo luận TT Giác Đẳng điều hợp
Thảo luận 1. Tâm thiện (kusala citta) khác với nhân thiện ( kusala hetu) thế nào? - TT Tuệ Siêu

 Thảo luận 2. Có người cướp của người giàu đem cho người nghèo (như Robin Hood) theo Phật Pháp có xem là thiện nghiệp? - TT Tuệ Siêu

 Thảo luận 3b: Làm sao chúng ta phân biệt trạng thái thiện hay bất thiện ở chính nội tâm của mình? - TT Tuệ Siêu


Thảo luận 4. Phật ngôn "không phải từ sân, vô sân khởi lên" có khẳng định là câu nói "lấy độc trị độc" không thể áp dụng được? - TT Tuệ Siêu



 III. Trắc Nghiệm

Trắc nghiệm 1: Con đường siêu đọa của chúng sanh tùy thuộc vào yếu tố nào sau đây: 
A. Trạng tháo tâm. 
B. Hành động đã làm. 
C. Phước báu đã huân tập. 
D. Cảm thọ vui buồn

TT Pháp  Đăng cho đáp án câu 1 là : B
TT Giác Đẳng cho đáp án câu 1 là : A

Trắc nghiệm 2. Câu nào sau đây được xem là hợp lý theo Phật Pháp?
 A. Nhân thiện khiến tâm thiện / 
B. tâm thiện khiến nghiệp thiện / 
c. Nghiep thien khien canh gioi tai sanh an lac/
 D. Cả ba câu trên

ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án câu 2 là D

Trắc nghiệm 3. Để nhận thức được trạng thái  nội tâm chúng ta nên làm điều nào sau đây?
 A. Nhìn vào phước báu mình có
/ B. Nhìn vào dư luận đối với bản thân
 C. Nhìn vào tâm bằng chánh niệm
 D. Nhìn vào khả năng của mình

TT Tuệ Siêu cho đáp án câu 3 là C

Sunday, July 2, 2017

Bài học. Chủ Nhật ngày 2-7-2017

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư:  TT Tuệ Siêu

Chương 6

IV. Phẩm Chư Thiên

(VIII) (38) Tự Làm

1. Rồi một vị Bà-la-môn đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:

2. - Thưa Tôn giả Gatama, tôi nói như sau, có tri kiến như sau: "Không có tự mình làm, không có người khác làm".

- Này Bà-la-môn, Ta không bao giờ thấy, không bao giờ nghe lời nói như vậy, tri kiến như vậy. Sao người ta có thể tự mình bước tới, hay tự mình bước lui, lại có thể nói rằng: "Không có tự mình làm, không có người khác làm"?  Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn, có nguyên tố tự khởi phát  không?  

- Thưa có, thưa Tôn giả.

Nếu đã có sự khởi sự, thời các loài hữu tình có được nêu rõ là có khởi sự không?

- Thưa có, thưa Tôn giả.

- Này Bà-la-môn, đã có khởi sự, các loài hữu tình có được nêu rõ là có khởi sự, thời đây là tự mình làm, đây là người khác làm của các loài hữu tình. Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn, có sự khởi xuất giới... có sự khởi nhập giới... có sự nỗ lực giới... có sự kiên trì giới... có sự dõng tiến giới hay không?

- Thưa có, thưa Tôn giả.

- Này Bà-la-môn, nếu đã có sự dõng tiến giới, thời các loài hữu tình có được nêu rõ có sự dõng tiến giới không?

- Thưa có, thưa Tôn giả.

- Này Bà-la-môn, đã có sự dõng tiến giới, các loài hữu tình có được nêu rõ là có sự dõng tiến giới, thời đây là tự mình làm, đây là người khác làm của các loài hữu tình. Này Bà-la-môn, Ta không bao giờ thấy, không bao giờ nghe nói như vậy, tri kiến như vậy. Sao người ta lại có thể tự mình bước tới, tự mình bước lui lại có thể nói rằng: "Không có tự mình làm, không có người khác làm".

- Thật vi diệu thay, Thưa Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Gotama... Từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.


III Thảo luận TT Giác Đẳng điều hợp

Thảo luận 1. Theo Phật học thế giới hiện tượng tự nhiên cần được nhận thức thế nào để không rơi vào ngã chấp?- TT Tuệ Quyền

Thảo luận 2. Phải chăng quan niệm về ngã dù là tự ngã hay đại ngã (một sáng tạo chủ) đều không được nhìn nhận trong Phật Pháp? - ĐĐ Pháp Tín

Thảo luận 3. Tại sao giáo lý vô ngã là một nền tãng rất đối lập với Ba La Môn giáo nhưng giữa Phật giáo và Bà la môn giáo lại có nhiều điều "rất gần nhau" như giáo lý luân hồi, thanh tịnh hoá nội tâm, tinh thần bất hại...? - TT Tuệ Quyền


 III. Trắc Nghiệm

Trắc nghiệm 1. Chuyện xưa kể rằng một người đi thuyền trong sương mù. Bổng nhiên bị một thuyền khác đụng vào. Người lái thuyền nổi giận vì cho rằng người bên thuyền kia bất cẩn nhưng nhìn rõ lại thì đó là thuyền trôi giạt không người lái. Biết vậy người chèo thuyền không giận nữa. Câu nào sau đây cho chúng ta ý nghĩ hợp lý về chuyện vừa kể?
 A. Đa số sự giận hờn của chúng ta vốn dựa trên quan niệm nhân ngã bĩ thử /
 B. Nếu tỉnh táo nhận ra vạn hữu vốn là hiện tượng tự nhiên thì chúng ta sẽ bớt tham sân 
/ C. Nếu không có đối tượng để trách móc thì tâm trách móc sẽ tự tan biến /

 D. Cả ba câu trên dều hợp lý

ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án câu 1 là D
TT Tuệ Siêu cho đáp án câu 2 là D

Trắc nghiệm 4.  Giáo lý duyên khởi cho chúng ta nhận thức nào sau đây? 
A. Trong thế giới hiện tượng không nhất thiết phải có dự phần của ý chí (thí dụ  sắc vật thực duyên cho lục nhập) /
 B. Có cái nầy thì phải có cái kia (thí dụ năng duyên sở ) /
 C. Duyên khởi vốn có nhiều đầu mối / 
D. cả ba câu trên đều đúng

TT Tuệ Siêu cho đáp án câu 2 là D