Sunday, March 11, 2018

Bài học. Chủ Nhật ngày 11-3-2018

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư: TT Giác Đẳng

Chương IX

Chín Pháp

III. Phẩm Chỗ Cư Trú Của Hữu Tình


(XI) (31) Chín Thứ Ðệ Diệt

1. - Này các Tỷ-kheo, có chín thứ đệ diệt. Thế nào là chín?

2. Thành tựu sơ Thiền, các dục tưởng bị đoạn diệt. Thành tựu đệ nhị Thiền, các tầm tứ bị đoạn diệt. Thành tựu đệ tam Thiền, hỷ bị đoạn diệt. Thành tựu đệ tứ Thiền, hơi thở vào, hơi thở ra bị đoạn diệt. Thành tựu Không vô biên xứ, sắc tưởng bị đoạn diệt. Thành tựu Thức vô biên xứ, Không vô biên xứ tưởng bị đoạn diệt. Thành tựu Vô sở hữu xứ, Thức vô biên xứ tưởng bị đoạn diệt. Thành tựu Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Vô sở hữu xứ tưởng bị đoạn diệt. Thành tựu Diệt thọ tưởng định, các tưởng và các cảm thọ bị đoạn diệt.

Này các Tỷ-kheo, đây là chín thứ đệ diệt.


II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hợp


 III Trắc Nghiệm

Trắc nghiệm 1. Tại sao người bình thường khó cảm nhận được "hạnh phúc do ly dục sanh"? 
A. Vì nội tâm còn lệ thuộc vào trần cảnh / 
B. Vì tâm chưa tu tập thuần thục với năm chi phần tầm, tứ, hỷ, lạc, định / 
C. Vì thói quen tập quán nhiều đời vốn hướng ngoại / 
D. Cả ba câu A, B, C đều đúng

ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án câu 1: D

Trắc nghiệm 2. Câu nào sau đây nói lên sự khác biệt giữa giàu có vật chất so với sự sung mãn nội tâm?
 A. Sự giàu có vật chất là thật, sự sung mãn tinh thần chỉ là quan niệm /
 B. Sự giầu có vật chất đến từ tích luỹ, sự sung mãn nội tâm đến từ buông xả / 
C. Sự giàu có vật chất do phước quá khứ, sự sung mãn nội tâm là nỗ lực tu tập trong hiện tại / 
D. Sự giàu có vật chất bền vững hơn là sự sung mãn nội tâm

TT Pháp Đăng cho đáp án câu 2: B

Trắc nghiệm 3. Câu nào sau đây được xem là chính xác khi nói về thiền định trong Phật Pháp? 
A. Sự thành tựu đáng kể của thiền định là sự thuần thục /
 B. Càn thuần thục trong thiền cảnh thì chi thiền càng giảm bớt/ 
C. Có giảm bớt (hay tịnh chỉ) thì mới có tiến bộ / 
D. Ba câu trên đều đúng


ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án câu 3 là: D

Trắc nghiệm 4. Câu nào sau đây cho thấy một người bắt đầu có khuynh hướng nghiên về đời sống nội tâm? 
A. Không thích thú với sự hơn thua /
 B. An lạc trong nếp sống yên tĩnh / 
C. Không thường lo lắng sự mất mát hay thiếu thốn vật chất / 
D. Cả ba câu trên đều đúng


TT Pháp Đăng cho đáp án câu 4 là D


Saturday, March 10, 2018

Bài học. Thứ Bảy ngày 10-3-2018

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư: TT Pháp Tân

Chương IX

Chín Pháp

III. Phẩm Chỗ Cư Trú Của Hữu Tình


(IX) (29) Hiềm Hận Sự

1. - Này các Tỷ-kheo, có chín hiềm hận sự. Thế nào là chín?

2. "Vị ấy đã làm hại tôi", hiềm hận khởi lên. "Vị ấy đang làm hại tôi", xung đột khởi lên. "Vị ấy sẽ làm hại tôi", hiềm hận khởi lên. "Vị ấy đã làm hại người tôi thương, tôi mến"... "Vị ấy đang làm hại người tôi thương, tôi mến"... "Vị ấy sẽ làm hại người tôi thương, tôi mến", xung đột khởi lên. "Vị ấy đã làm lợi cho người tôi không thương, không mến"... "Vị ấy đang làm lợi..." Vị ấy sẽ làm lợi cho người tôi không thương, không mến", xung đột khởi lên.

Này các Tỷ-kheo, đây là chín hiềm hận sự.

(X) (30) Ðiều Phục Hiềm Hận

1. - Này các Tỷ-kheo, có chín điều phục hiềm hận sự. Thế nào là chín? "Vị ấy đã làm hại tôi; có ích lợi gì mà nghĩ như vậy", nhờ vậy xung đột được điều phục. "Vị ấy sẽ làm hại tôi; có ích lợi gì mà nghĩ như vậy", nhờ vậy xung đột được điều phục. "Vị ấy đã làm hại người tôi thương mến; có ích lợi gì mà nghĩ như vậy", nhờ vậy hiềm hận sự được điều phục. "Vị ấy đã làm hại... vị ấy làm hại người tôi thương tôi mến; có ích lợi gì mà nghĩ như vậy", nhờ vậy xung đột được điều phục. "Vị ấy đã làm lợi cho người tôi không thương, không mến"... "Vị ấy đang làm lợi... vị ấy sẽ làm lợi cho người tôi không thương, không mến, có lợi ích gì mà nghĩ như vậy", nhờ vậy xung đột được điều phục


Này các Tỷ-kheo, đây là chín hiềm hận sự được điều phục.


II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hợp

TT Giác Đẳng đúc kết phần thảo luận


 III Trắc Nghiệm

Trắc nghiệm 1. Những người thù ghét những ca sĩ khác khi nghĩ là người kia đụng chạm tến người mình hâm mộ nằm trong điều nào sau đây?
 A. Hiềm hận vì nghĩ rằng "Vị ấy đã làm hại tôi", xung đột khởi lên. "Vị ấy đang làm hại tôi", xung đột khởi lên. "Vị ấy sẽ làm hại tôi", xung đột khởi lên./ 
B. Hiềm hận vì nghĩ rằng "Vị ấy đã làm hại người tôi thương, tôi mến"... "Vị ấy đang làm hại người tôi thương, tôi mến"... "Vị ấy sẽ làm hại người tôi thương, tôi mến", xung đột khởi lên./
C. Hiềm hận vì nghĩ rằng "Vị ấy đã làm lợi cho người tôi không thương, không mến"... "Vị ấy đang làm lợi..." Vị ấy sẽ làm lợi cho người tôi không thương, không mến"/
 D. Hiềm hận vì nghĩ rằng nên tìm lý do phải luôn cảnh giác đối với những người thù địch

TT Tuệ Siêu cho đáp án câu 1: B

Trắc nghiệm 2. Điều nào sau đây là thí dụ về sự vô ích khi nghĩ về thù hận?
 A. Hận thù với người đã gây sự với mình trong ba năm trước (bây giờ thì chưa biết ra sao) /
 B. Thù ghét những quốc gia không nằm trong liên minh với đất nước mình (ghét Do Thái thì nghĩ là Palestine hoàn toàn đúng hay ngược lại) /
C. Ghét bỏ cầu thủ thuộc đội banh thắng đội banh mình hâm mộ /
 D. Cả ba điều trên

ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án câu 2 : A

Trắc nghiệm 3. Điều nào sau đây cho thấy sự hiềm hận thường do sự suy nghĩ nông nổi? 
A. Suy nghĩ "người đó sẽ làm hại mình", một phán quyết chắc chắn một điều chưa xẩy ra /
 B. Suy nghĩ "người đó làm lợi cho người mình ghét" có nghĩa là đòi hỏi cả thế giới phải thương ghét theo quan điểm của mình / 
C. Suy nghĩ "mình ghét người đó vì người đó đụng chạm đến những người mình thương" như vậy càng có nhiều người thương thì càng có nhiều kẻ thù /
 D. Cả ba câu trên đều đúng

ĐĐ Huy Niệm cho đáp án câu 3 D

Trắc nghiệm 4. Bốn câu ca dao sau đây nói lên bốn trạng thái tâm. Câu nào cho thấy là trong có suy nghĩ có “chánh tư niệm”?
 A. Ai thương ai ghét mặc tình, Phận mình cứ giữ tâm mình thật ngay /
 B. Khi thương củ ấu cũng tròn, Khi ghét trì trái bồ hòn cũng méo / 
C. Thương ai thương cả đường đi, Ghét ai ghét cả tông chi họ hàng / 
D. Trâu cột thì ghét trâu ăn, Quan võ thì ghét quan văn dài quần


TT Pháp Đăng cho đáp án câu 4: A



Friday, March 9, 2018

Bài học. Thứ Sáu ngày 9-3-2018

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư: TT Tuệ Siêu

Chương IX

Chín Pháp

III. Phẩm Chỗ Cư Trú Của Hữu Tình


(VII) (27) Sợ Hãi Hận Thù (1) và (VIII) (28) Sợ Hãi Hận Thù (2)

1. Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi xuống một bên:

2. - Này Gia chủ, khi nào năm sợ hãi hận thù của vị Thánh đệ tử được chỉ tức, thời vị ấy thành tựu được bốn Dự lưu phần. Nếu vị ấy muốn, có thể tuyên bố về ngã đối với tự ngã: "Ðịa ngục đối với ta được đoạn tận, loài bàng sanh đối với ta được đoạn tận, cõi ngạ quỷ đối với ta được đoạn tận, cõi dữ, ác thú, đọa xứ đối với ta được đoạn tận. Ta là vị Dự lưu, không còn thối đọa, chắc chắn đạt đến Chánh giác".

3. Thế nào là năm sợ hãi hận thù được chỉ tức?

Này Gia chủ, sợ hãi hận thù do sát sanh, vì duyên sát sanh, đưa đến trong hiện tại; sợ hãi hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ. Từ bỏ sát sanh, sợ hãi hận thù không đưa đến trong hiện tại, sợ hãi hận thù không đưa đến trong tương lai, kể cả không có tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ... Ðối với vị từ bỏ sát sanh, như vậy sợ hãi hận thù được nhiếp phục.

Này Gia chủ, sợ hãi hận thù do lấy của không cho, vì duyên lấy của không cho đưa đến trong hiện tại; sợ hãi hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ... Ðối với vị từ bỏ lấy của không cho, như vậy sự sợ hãi hận thù được nhiếp phục.

Này Gia chủ, sợ hãi hận thù do sống tà hạnh trong các dục, vì duyên sống tà hạnh trong các dục đưa đến trong hiện tại; sợ hãi hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ... Ðối với vị từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, như vậy sợ hãi hận thù được nhiếp phục.

Này Gia chủ, sợ hãi hận thù do nói láo, vì duyên nói láo đưa đến trong hiện tại; sự sợ hãi hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ... Ðối với vị từ bỏ nói láo, như vậy sợ hãi hận thù được nhiếp phục.

Này Gia chủ, sợ hãi hận thù do đắm say rượu men, rượu nấu, vì duyên đắm say rượu men, rượu nấu đưa đến trong hiện tại; sự sợ hãi hận thù đưa đến trong tương lai, kể cả tâm khổ, tâm ưu người ấy cảm thọ... Ðối với vị từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, như vậy sợ hãi hận thù được nhiếp phục.

Năm sự sợ hãi hận thù này được nhiếp phục.

4. Thế nào là bốn Dự lưu phần được đầy đủ?

Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử, đầy đủ lòng tin tuyệt đối với đức Phật: "Ðây là Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn".

Vị ấy đầy đủ lòng tin tuyệt đối với Pháp: "Ðây là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, do người trí tự mình giác hiểu".

Vị ấy đầy đủ lòng tin tuyệt đối đối với chúng Tăng: "Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Thiện hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Trực hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Chánh hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Như pháp hạnh, tức là bốn đôi tám chúng. Chúng Tăng đệ tử này của Thế Tôn, đáng được cung kính, đang được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là vô thượng phước điền ở trên đời.

Vị ấy đầy đủ các giới đức được bậc Thánh quý mến, không bị bể vụn, không bị hủy hoại, không có tỳ vết, không có vết nhơ, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị nhiễm trước, đưa đến Thiền định. Bốn Dự lưu phần này được thành tựu.

(VIII) (28) Sợ Hãi Hận Thù (2)


(Thế Tôn thuyết lại kinh 26 cho các Tỷ-kheo).


II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hợp

Thảo luận 1. Phải chăng ngũ giới không chỉ đơn giản là không làm năm bất thiện nghiệp mà còn hàm ý mang lại sự an lành cho chúng sanh khác và tránh gây sợ hãi, oán thù? - TT Pháp Tân


Thảo luận 2. Phải chăng những ân đức Tam Bảo (tiratanaguna) không phải chỉ đơn thuần là sự xưng tán mà còn là pháp tánh của Phật Pháp Tăng? - TT Pháp Đăng




 III Trắc Nghiệm

Trắc nghiệm 1. Một bậc nhập lưu (vào giòng thánh vức) viên mãn điều nào sau đây? 
A. Tuyệt đối không có ý gây tổn hại cho bất cứ chúng sanh nào /
 B. Thành tựu niềm tin bất động ở Phật, Pháp, Tăng /
 C. Trong sạch về giới hạnh / 
D. Cả ba điều trên


TT Pháp Đăng cho đáp án câu 1 : D

Trắc nghiệm 2. Niềm tin Tam Bảo của bậc thánh khác với phàm nhân thế nào?
 A. Bậc thánh tin vì hiểu / 
B. Bậc thánh tin với sự bất động /
 C. Bậc thánh tin và sống với niềm tin một cách trọn vẹn/
 D. Ba câu trên đều đúng


ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án câu 2: D

Trắc nghiệm 3. Câu nào sau đây được xem là chính xác theo Tam Tạng kinh điển? 
A. Một người đầy đủ tam quy và ngũ giới chắc chắn không sanh vào khổ cảnh sau khi mạng chung / 
B. Một người làm những phước sự to lớn chắc chắn siêu thoát sau khi mạng chung /
 C. Một người hiền lành không thể sanh vào cõi khổ / 
D. Một người niệm Phật sẽ được Phật rước sau khi chết.


TT Pháp Tân cho đáp án câu 3:A

Thursday, March 8, 2018

Bài học. Thứ Năm ngày 8-3-2018

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư: ĐĐ Huy Niệm

Chương IX

Chín Pháp

III. Phẩm Chỗ Cư Trú Của Hữu Tình


(VI) (26) Trụ Ðá

1. Như vầy tôi nghe:

Một thời, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Candikàputta trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Tại đấy, Tôn giả Candikàputta gọi các Tỷ-kheo, nói rằng:

- Này các Hiền giả, Devadatta thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: "Thưa các Hiền giả, khi nào tâm vị Tỷ-kheo được khéo tích tập với trí tuệ, thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: "Ta rõ biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa"".

2. Ðược nói vậy, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Candikàputta:

- Này Hiền giả Candikàputta, Devadatta không có thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: "Thưa các Hiền giả, khi nào tâm Tỷ-kheo được khéo tích tập với trí tuệ thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: "Ta rõ biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa"". Này Hiền giả Candikàputta. Devadatta thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: "Thưa các Hiền giả, khi nào tâm vị Tỷ-kheo được khéo tích tập với tâm ý thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: "Ta rõ biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa"".

3. Lần thứ hai... Lần thứ ba, Tôn giả Candikàputta gọi các Tỷ-kheo, nói rằng:

- Thưa các Hiền giả, Devadatta thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: "Khi nào tâm Tỷ-kheo được khéo tích tập với trí tuệ thời thật hợp lý cho vị Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: "Ta rõ biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa"".

Lần thứ ba, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Candikàputta:

- Này Hiền giả Candikàputta, Devadatta không có thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: "Thưa các Hiền giả, khi nào tâm Tỷ-kheo được khéo tích tập với trí tuệ thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: "Ta rõ biết: "Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa"". Này Hiền giả Candikàputta. Devadatta thuyết pháp cho các Tỷ-kheo như sau: "Thưa các Hiền giả, khi nào tâm vị Tỷ-kheo được khéo tích tập với tâm ý thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: "Ta rõ biết: "Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa"".

4. - Và như thế nào, này Hiền giả, tâm vị Tỷ-kheo được khéo tích tập với tâm ý?

- "Ly tham là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. "Ly sân là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. "Ly si là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. "Tánh không có tham là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. "Tánh không có sân là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. "Tánh không có si là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. "Tánh không chuyển hướng về dục hữu là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. "Tánh không chuyển hướng về sắc hữu là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý. "Tánh không chuyển hướng về vô sắc hữu là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với tâm ý.

5. Như vậy, này Hiền giả, với Tỷ-kheo có tâm chánh giải thoát như vậy, nếu các sắc do mắt nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vực của con mắt, các sắc không chinh phục tâm vị ấy, tâm được an trú, không bị tạp nhiễm, không bị lay động. Vị ấy tùy quán sự diệt tận của chúng; nếu các tiếng do tai nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vực của lỗ tai... nếu các hương do mũi nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vực của lỗ mũi... nếu các vị do lưỡi nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vức của lưỡi... nếu các xúc do thân nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vức của thân. nếu các pháp do ý nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vức của ý... Các pháp không chinh phục, tâm vị ấy, tâm được an trú, không bị tạp nhiễm, không bị lay động. Vị ấy tùy quán sự diệt tận của chúng. Ví như, này Hiền giả, một trụ đá cao mười sáu khuỷu tay, tám khuỷu tay chôn sâu xuống đất, tám khuỷu tay nổi lên trên, nếu từ phương Ðông, mưa to gió lớn đến, không làm rung động, không làm chuyển động, không làm chuyển động mạnh trụ đá ấy; nếu từ phương Tây... nếu từ phương Bắc... nếu từ phương Nam, mưa to gió lớn đến, không làm rung động, không làm chuyển động, không làm chuyển động mạnh trụ đá ấy. Vì sao? Này Hiền giả, vì trụ đá được đào sâu, được chôn sâu. Cũng vậy, này Hiền giả, với Tỷ-kheo có tâm chánh giải thoát như vậy, nếu các sắc do mắt nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vức của con mắt, các sắc không chinh phục tâm của vị ấy, tâm được an trú không bị tạp nhiễm, không bị lay động. Vị ấy tùy quán sự diệt tận của chúng. Nếu các tiếng do tai nhận thức... nếu các pháp do ý nhận thức mạnh mẽ đi vào giới vức của ý, các pháp không chinh phục tâm vị ấy, tâm được an trú, không bị tạp nhiễm, không bị lay động. Vị ấy tùy quán sự diệt tận của chúng.


II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hợp

Thảo luận 1. Động từ " khéo huân tập (suparicita)" trong bài kinh nầy mang ý nghĩa gì? - TT Tuệ Siêu
TK Giac Dang  
"cetasā cittaṁ hoti"
"cetasā cittaṁ suparicita"
 "cetasā cittaṁ suparicitam hoti"
TK Giac Dang  
paññāya cittaṁ suparicitaṁ hoti,
cau cua Duc Phat

Thảo luận 2. Sự giao động của tâm đối với cảnh là do yếu tố chủ quan hay khách quan? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 3. Đối với trường hợp tâm giao động trước sự chi phối của ngoại cảnh thì phương cách nào dễ khắc phục hơn: tu tập nội tại hay thay đổi ngoại cảnh? - ĐĐ Nguyên Thông


Thảo luận 4. Tâm ly tham và tâm không bị tham chi phối khác biệt thế nào? - ĐĐ Pháp Tín

Thảo luận 5. Chúng ta thường ca ngợi khả năng ứng biến nhưng ít khi tán thán khả năng bất biến. Điều đó do văn hoá hay do thiếu ý thức giá trị của một "nội tâm không giao động trước pháp thế gian"? - ĐĐ Huy Niệm

Thảo luận 6. TT Giác Đẳng đúc kết phần thảo luận



 III Trắc Nghiệm

Wednesday, March 7, 2018

Bài học. Thứ Tư ngày 7-3-2018

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư: TT Pháp Đăng

Chương IX

Chín Pháp

III. Phẩm Chỗ Cư Trú Của Hữu Tình


(V) (25) Trí Tuệ

1. - Này các Tỷ-kheo, khi nào tâm Tỷ-kheo được khéo tích tập với trí tuệ, thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy nói như sau: "Ta rõ biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tâm Tỷ-kheo được khéo tích tập?

2. "Ly tham là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ. "Ly sân là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ. "Ly si là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ. "Tánh không có tham là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ. "Tánh sân là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ. "Tánh không có si là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ. "Tánh không chuyển hướng về dục hữu là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ. "Tánh không chuyển hướng về sắc hữu là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ. "Tánh không chuyển hướng về vô sắc hữu là tâm của ta", như vậy tâm vị ấy được khéo tích tập với trí tuệ.

Này các Tỷ-kheo, khi nào tâm Tỷ-kheo được khéo tích tập với trí tuệ, thời thật hợp lý cho Tỷ-kheo ấy nói như sau: "Ta rõ biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa"".


II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hợp



 III Trắc Nghiệm

Tuesday, March 6, 2018

Bài học. Thứ Ba ngày 6-3-2018

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư: TT Tuệ Siêu

Chương IX

Chín Pháp

III. Phẩm Chỗ Cư Trú Của Hữu Tình


(IV) (24) Các Loại Hữu Tình

1. - Này các Tỷ-kheo, có chín chỗ cư trú của loài hữu tình. Thế nào là chín?

2. Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng sai biệt, như loài Người, một số chư Thiên, một số ở các đọa xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ nhất.

3. Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng đồng nhất, chư Phạm Chúng thiên, khi mới tái sanh. Ðó là hữu tình trú xứ thứ hai.

4. Này các Tỷ-kheo, có loại hữu tình, thân đồng nhất, tưởng sai biệt như Quang âm thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ ba.

5. Này các Tỷ-kheo, có loài hữu tình, thân đồng nhất, tưởng đồng nhất, như Tịnh Cư thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ tư.

6. Này các Tỷ-kheo, có những loại hữu tình không có tưởng, không có thọ như Vô Tưởng thiên. Ðó là hữu tình trú xứ thứ năm.

7. Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình vượt khỏi sắc tưởng một cách hoàn toàn, diệt trừ các đối ngại tưởng, không có tác ý sai biệt tưởng, nghĩ rằng: "Hư không là vô biên", chứng được Không vô biên xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ sáu.

8. Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình, vượt khỏi hư Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: "Thức là vô biên", chứng được Thức vô biên xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ bảy.

9. Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: "Không có gì tất cả", chứng được Vô sở hữu xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ tám.

10. Này các Tỷ-kheo, có những loài hữu tình vượt khỏi Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ðó là hữu tình trú xứ thứ chín.

Này các Tỷ-kheo, đây là chín chỗ cư trú của các loài hữu tình.


II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hợp


Thảo luận 1. Từ vựng "tưởng -saññà" trong nhiều trường hợp chỉ cho "tâm thức" trong Phật học như vậy so với tâm thức ý nghĩa rộng hẹp thế nào? - TT Pháp Tân


Thảo luận 2. Những trường hợp "thân đồng tưởng dị, thân dị tưởng đồng, thân đồng tưởng đồng, thân dị tưởng dị" được Đức Phật đưa ra với những thí dụ chư phạm thiên ở cõi Phạm chúng, cõi Quang Âm... nhưng có xảy ra ở cõi người, hay loài vật như ong, kiến... chăng? - TT Pháp Đăng

Thảo luận 3. Khi nói "tưởng đồng nhất" phải chăng là CÁCH SUY NGHĨ giống nhau hay tâm thiện ác giống nhau? - TT Tuệ Quyền

Thảo luận 4. Nếu chúng sanh do nghiệp nên thân tâm giống nhau thì có nên nói cách suy nghĩ của chúng sanh đo hoàn toàn do bản năng chứ không do ý chí? nếu đúng như vậy thì nghiệp quả thế nào? - ĐĐ Huy Niệm


 III Trắc Nghiệm