Sunday, October 6, 2019

Bài học. Thứ Hai ngày 7 tháng 10, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng Sư: TT Giác Đẳng
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 7/10/2019 
Kinh Tất Cả Lậu Hoặc -Sàbbàsava Sutta (tiếp theo)

46. Thế nào là lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn tận (āsavā vinodanā pahātabbā)?
Đó là những lậu hoặc cần áp đảo tiêu trừ ngay lúc mới sanh khởi bằng thái độ dứt khoá không chấp nhận. Những ý nghĩ bất thiện nầy nếu không xua tan lập tức thì sẽ nhanh chóng lớn mạnh hướng cuộc sống vào những hệ luỵ khó lường.

47. Những lậu hoặc cần nhanh chóng tận diệt với thái độ dứt khoát không chấp nhận đó là gì?
Đó là ba tà tư duy còn được gọi là bất thiện tầm mà trong bản dịch gọi là niệm bất thiện đối với chúng sanh.
Dục niệm hay dục tầm là ý nghĩ về chúng sanh khác bằng sự ham muốn, ái luyến.
Sân niệm hay sân tầm là ý nghĩ ghét bỏ, hiềm khích, bất mãn đối với chúng sanh.
Hại tầm là sự thù hận, oan trái đối với chúng sanh.
 Những ý tưởng nầy nếu không tiêu diệt từ lúc manh nha thì một khi đã lớn mạnh rất khó đoạn diệt và chi phối tai hại toàn bộ cuộc sống.

48. Tại sao ý tưởng bất thiện có nhiều mà chỉ có ba dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy được nêu rõ là những phiền não phải dập tắt ngay lập tức?
Vì khả năng lây lan dẫn đến bộc phát to lớn nguy hại. Có thể hiểu như chỗ rò rĩ nhỏ của bờ đê bao bọc hay đốm lử nhỏ trong khu rừng có thể dẫn đến đại hoạ. Một điểm khác là những lậu hoặc nầy có điểm xuất phát từ nội tâm nên có thể tiêu diệt khi chúng còn trong giai đoạn phôi thai.

49. Những phiền não như ham muốn, bực bội ở mức độ nào được xem là tà tư duy?
Những ham muốn, khó chịu .. nhỏ nhặt trong đời sống không gọi là tà tư duy. Bất thiện tầm hay tà tư duy mang tính cánh miên man, đậm đặc hơn là chỉ là những phiền não thoáng qua. Tuy vậy nên hiểu là phiền não lớn đôi khi bắt đầu bằng những niệm bất thiện nhỏ bé. 

50. Những tà tư duy có thể đoạn diệt bằng cách nào?
Trước nhất là thái độ dứt khoát không chấp nhận vì hiểu rõ những tà tư duy đó làm mầm móng của bao hệ luỵ của cuộc sống tinh thần. Thí dụ một người tu tập không chấp nhận thái độ kỳ thị ghét bỏ người khác vì lý do chủng tộc, màu da…
Sống gần bạn lành để được nhắc nhở khi “quên mình” cũng là một cách tốt.
Người tu tập chánh niệm có thể nhanh chóng nhận ra “sự bất ổn” trong đời sống tinh thần khi tà tư duy hiện khởi và tồn tại.
Đời sống tích cực như tu tập từ tâm, niệm tưởng ân lành Tam Bảo, sống với tinh thần tích cực cũng giúp xua tan những bất thiện tầm.


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Bệnh trầm cảm (depression) ngày nay thường được chữa trị bằng thuốc. Theo Phật học thì y dược có thế giúp gì để trị liệu phiền não? - TT Tuệ Siêu 

Thảo luận 2. Oán trách sâu nặng thuộc sân tầm hay hại tầm? Thí dụ trường hợp một người “hận” cha mẹ đã bỏ rơi mình khi còn nhỏ. - TT Tuệ Siêu 


Thảo luận 3. Sự thù ghét một tôn giáo hay một quốc gia nào đó không có một cá nhân làm đối tượng rõ rệt thì có xem là hại tầm? - ĐĐ Pháp Tín

Thảo luận 4. Có thể chăng để đương đầu với kẻ thù nghịch nhưng không bằng hận thù? - ĐĐ Nguyên Thông


Thảo luận 5. Có người quan niệm rằng chính là tâm sân và hận thù tạo thành sức mạnh khiến chúng ta bớt sợ hãi. Quan niệm đó bất cập ở điểm nào? - TT Pháp Tân



 III Trắc Nghiệm

Saturday, October 5, 2019

Bài học.Chủ Nhật ngày 6 tháng 10, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng Sư: TT Tuệ Siêu
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 6/10/2019 
Kinh Tất Cả Lậu Hoặc -Sàbbàsava Sutta (tiếp theo)

42. Thế nào là lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ?
Có những lậu hoặc phiền não đến từ những nguy hiểm, phiền phức, tai bay hoạ gởi lẽ ra có thể tránh được nếu cẩn trọng đó là lậu hoặc do tránh né đoạn trừ.

43. Những gì nên tránh né được đề cập trong bài kinh nầy?
Tất nhiên có nhiều thứ trong đời sống thực tế cần tránh né. Những gì được đề cập trong chánh kinh nêu lên một số tiêu biểu.
Thú vật nguy hiểm: voi dữ,  ngựa dữ, bò dữ, chó dữ, rắn rết..

Những nơi dễ sanh tại nạn: bụi rậm, gai góc, hố sâu, vực núi, ao nước nhớp, vũng nước trơn trợt. 

Những nơi không thích hợp cho một người đàng hoàng: chỗ ngồi không xứng đáng ngồi, những trú xứ không nên lai vãng,

Những người ác xấu:  thành phần bất hảo nếu giao du thì bị các vị đồng phạm hạnh có trí nghi ngờ, khinh thường

 44.  Thái độ tránh né có thể bị hiểu lầm là thiếu can đảm chăng?
Liều lĩnh, bất cẩn, thiếu suy nghĩ không thể xem là can đảm. Né tránh những điều nguy hiểm, phiền luỵ để không gây phiền não cho mình và người chung quanh không phải là thái độ yếu đuối. Sống với thái độ hiểu biết thực tiễn là biểu hiện của bậc trí tuệ. Đó là điều được dạy trong bài kinh nầy.

45. Có lập luận là nếu không thân cận  kẻ ác thì làm sao độ kẻ ác thành người thiện. Điều nầy được hiểu theo Phật pháp thế nào?

Cảm hoá kẻ ác và thân cận kẻ ác là hai điều khác nhau. Thân cận là ưa thích giao du qua lại. Hơn nữa cũng phải luôn tự hỏi là bản thân có đủ nội lực để cảm hoá kẻ ác hay bị người ác xấu ảnh hưởng. Nếu nhận thức một cách thành thật là mình đang trong tình trạng “gần mực thì đen” thì cách tốt nhất vẫn là xa bạn ác, gần người lành.


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Người Trung Hoa có câu “Nếu là phúc thì không là hoạ mà nếu là hoạ thì không thể tránh khỏi”. Nếu một người nghĩ rằng chuyện nguy hiểm hay không nguy hiểm do nghiệp quá khứ nếu quả nghiệp trỗ thì không thể tránh khỏi, có cố gắng cũng vô ích. Lối suy nghĩ đó có phù hợp với Phật Pháp?

Thảo luận 2. Tinh thần mạo hiểm để lớn mạnh hơn, can đảm hơn, hiểu hiết hơn có được khuyến khích theo Phật Pháp?

Thảo luận 3. Thuở xưa một tỳ kheo thay đổi trú xứ tương đối dễ dàng so với ngày nay đôi khi vì ràng buộc giấy tờ, phương tiện, trách nhiệm… Vậy thì nếu không tránh né được người xấu thì nên sống chung thế nào?

Thảo luận 4. Thái độ “điếc không sợ súng” và lòng can đảm khác biệt thế nào?


Thảo luận 5. Tinh thần thích nghi có đi ngược lại với sự tránh né đề cập trong bài kinh hôm nay?



 III Trắc Nghiệm

Friday, October 4, 2019

Bài học. Thứ Bảy ngày 5 tháng 10, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng Sư: TT Pháp Tân
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 5/10/2019 
Kinh Tất Cả Lậu Hoặc -Sàbbàsava Sutta (tiếp theo)

37. Thế nào là các lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ?
Không ai trong đời có thể tránh được những nghịch cảnh hay những chuyện trái ý nghịch lòng. Phản ứng thông thường là bực bội, phẫn nộ nên từ đó khiến nhiều lậu hoặc tăng trưởng. Kham nhẫn trước những điều trái ý là một bản lãnh giúp người tu tập đoạn trừ những lậu hoặc đó.

38. Những gì cần được kham nhẫn?
Kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát. 
Kham nhẫn những mạ lị phỉ báng. 
Kham nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, không thích thú, chết điếng người. 

39. Kham nhẫn có phải là sự thúc thủ, cam chịu?
Thúc thủ, cam chịu là biểu hiện của sự yếu đuối. Kham nhẫn là một sức mạnh. Hơn thế nữa là một bản lãnh để cuộc sống không bị chao đảo trước nghịch cảnh. Không một ai dù quyền lực to lớn tới đâu có thể tránh né hay giải quyết tất cả những điều ngoài ý muốn. Khả năng chịu đựng, thích nghi là một kỹ năng quan trọng của tất cả người tu tập. 

40. Như lý giác sát để kham nhẫn là suy xét thế nào?
Có nhiều cách  như lý giác sát để kham nhẫn trước nghịch cảnh. Người tu tập có thể học theo những gì được dạy trong kinh điển và áp dụng theo kinh nghiệm cá nhân.
Một vị tăng sĩ nhẫn nại không bày tỏ phẫn uất vì tự nhắc “hình dáng ta đây khác hơn người thế tục nên không thể sân si như thường tình”
Một hành giả tu tập trong lúc thời tiết nóng bức tự nhủ: “Cái nóng nầy thật ra không hơn cái nóng của lửa trong địa ngục.”
Một người bị người khác chửi mắng nên tự nói với mình: “họ có thể đánh mình nhưng chỉ chửi mắng thôi kể ra cũng còn tốt”
Một người sống chung với người hay gây phiền phức cho mình nên thường tự tâm niệm: “người nầy tạo cho mình cơ hội tôi luyện đức nhẫn nại”
Một người sống với những khó khăn, thiếu thốn nhớ nghĩ về Đức Phật: Bậc Đạo Sư xuất thân cao quý trong cung vàng điện ngọc vậy mà Ngài từng sống trong rừng sâu, thọ dụng thức ăn khất thực, mặc y phấn tảo.. Nghĩ vậy có khả năng kham nhẫn với cuộc sống bần hàn.

41. Tại sao không kham nhẫn với những điều nên kham nhẫn sẽ làm sanh khởi các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não? 
Không kham nhẫn thì dễ phẫn nộ, khó thích nghi, khó giữ tâm an nhiên. Tất cả tạo nên điều kiện thích hợp cho lậu hoặc sanh khởi và tăng trưởng. Kinh nghiệm thực tế cho thấy nghịch cảnh chỉ tạo một phần khổ sở nhưng chính phản ứng không khéo khiến sự việc tệ hại hơn nhiều.


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Có lập luận rằng thái độ kham nhẫn khiến xã hội chậm tiến vì dễ dàng chấp nhận những khiếm khuyết. Phật pháp có dạy sự kham nhẫn với thái độ an phận chăng?

Thảo luận 2. Những người “lì lợm” có bản lãnh nhẫn nại chăng?

Thảo luận 3. Những người “ruột để ngoài da” có nhất thiết là người chơn chất?

Thảo luận 4. Kham nhẫn là “đức tánh trời cho” hay là một khả năng có thể huân tập?

Thảo luận 5. Phải chăng một trong những tập luyện căn bản mà người xuất gia phải có là học hạnh nhẫn nại?


Thảo luận 6. Phải chăng nhìn vào tấm gương của những người chung quanh khích lệ chúng ta học hạnh kham nhẫn?



 III Trắc Nghiệm

Thursday, October 3, 2019

Bài học. Thứ Sáu ngày 4 tháng 10, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng SưĐĐ Pháp Tín
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 4/10/2019 
Kinh Tất Cả Lậu Hoặc -Sàbbàsava Sutta (tiếp theo)

31. Thế nào là lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ (āsavā paṭisevanā pahātabbā)? 
Thọ dụng những nhu yếu y phục, thực phẩm, chỗ ở, thuốc trị bệnh thường tạo nên lậu hoặc ham muốn, thủ đắc. Người tu tập cần biết thọ dụng thế nào để đáp ứng nhu cầu cuộc sống nhưng không tạo thêm phiền não.

32. Tại sao nhu yếu có nhiều nhưng trong kinh chỉ nêu có bốn là y phục, thực phẩm, chỗ ở, thuốc trị bệnh?

Y phục, thực phẩm, chỗ ở, thuốc trị bệnh là bốn nhu yếu căn bản, thiết yếu của người xuất gia. Nói cách khác những nhu yếu nầy không có không được; chỉ nên có ở mức độ vừa đủ. Cũng nên nói thêm là trong “tứ pháp y” của người xuất gia thì được phép tự tìm kiếm bốn nhu yếu bằng cách lượm vải bỏ làm y (phấn tảo y), đi trì bình khất thực nếu không có người cúng dường, sống dưới cội cây và dùng trái amalaka ngâm làm thuốc trị bệnh. 
33. Ngày nay đối với những nhu cầu khác mà vị xuất gia sử dụng như máy điện toán, điện thoại… có cần được quán tưởng?
Bối cảnh của đời sống xuất gia ngày nay có phần khác với thời Đức Phật tại thế. Tuy vậy những gì được giảng dạy trong kinh điển là mẫu mực để linh động áp dụng cuộc sống hôm nay. Tinh thần căn bản là chỉ nên thọ dụng những gì thật sự cần thiết; khiêm tốn theo tinh thần của người xuất gia thanh hạnh; thường tự nhắc nhở về mục đích thực dụng của nhu yếu.

34. Nếu thọ dụng nhu yếu có thể khiến lậu hoặc sanh thì phải chăng tốt nhất là không thọ dụng?
Đức Phật dạy con đường trung đạo. Ăn uống dễ sanh tham luyến nhưng nhịn đói không phải là cách. Quá chú trọng việc ăn uống là lợi dưỡng. Nhịn đói cũng là một cực đoan khác. Chơn chánh quán tưởng trong ẩm thực là lối sống trung đạo. Trong sự ăn mặc, chỗ ở, trị bệnh cũng mang ý nghĩa tương tự.

35. Tại sao mỗi nhu yếu có cách quán tưởng riêng?

Vì mỗi nhu yếu có chi phối khác nhau. Thí dụ có người nặng về ẩm thực mà không nặng về chỗ ở hay ngược lại. Chính vì thế bốn nhu yếu được quán tưởng như sau:
Thọ dụng y phục, chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, chỉ với mục đích che đậy sự trần truồng.
Thọ dụng món ăn khất thực không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn".
Thọ dụng sàng tọa, chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loại bò sát, chỉ để giải trừ nguy hiểm của thời tiết, chỉ với mục đích sống độc cư an tịnh.
Thọ dụng dược phẩm trị bệnh, chỉ để ngăn chận các cảm giác khổ thống đã sanh, để được ly khổ hoàn toàn.

36. Những pháp như lý giác sát đối với sự thọ dụng nhu yếu được áp dụng thực tế như thế nào?
Pháp quán tưởng khi thọ dụng nhu yếu đặc biệt được Đức Phật giảng dạy cho người xuất gia. Quán tưởng thanh tịnh giới là một trong bốn thanh tịnh giới. Có bốn cách quán tưởng đối với bốn nhu yếu: quán tưởng đoạn trừ ngã chấp và ngã sở chấp; quán tưởng về bất tịnh của những nhu yếu khi tiếp xúc với thân; quán tưởng trong khi thọ dụng; quán tưởng cuối ngày.


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Làm thế nào để phân định “mức độ vừa phải” trong nhu cầu cuộc sống của người tu tập? (Thí dụ chuyện am thất tu tập có nên có máy điều hoà nhiệt độ?)

Thảo luận 2. Phật giáo Bắc truyền có tập “Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu” ghi những bài kệ quán tưởng trong sinh hoạt hằng ngày thí dụ khi ăn thì đọc: Nhược kiến mãn bát, /Đương nguyện chúng sinh, / Cụ túc thạnh mãn, /Nhứt thiết thiện pháp”. Dịch nghĩa: Nhìn thấy bát cơm đầy,/ Cầu  tất cả mọi loài / Có đầy đủ  phước báu, / Các thiện pháp tràn đầy. Phép quán bằng kệ tụng như vậy có trong Tam Tạng Pàli? Nếu không có thì tại sao?

Thảo luận 3. Tỳ kheo Devadatta  thỉnh cầu Đức Phật ban hành 5 điều như tỳ kheo suốt đời mặc y phấn tảo, suốt đời sống dước cội cây, suốt đời sống với thực phẩm khất thực…. Đức Phật trả lời những điều đó có thể hành trì và có thể không hành trì. Thái độ của Đức Phật mang ý nghĩa thế nào đối với nhu cầu của đời sống xuất gia?

Thảo luận 4. Pháp quán tưởng trong sự thọ dụng nhu yếu được dạy cho hàng xuất gia. Người cư sĩ có thể hành trì có kết quả tốt chăng?


Thảo luận 5. Thế giới đang báo động về sự tiêu thụ thiếu trách nhiệm của nhân loại. Người Phật tử nghĩ sao về điểm nầy?


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành



 III Trắc Nghiệm

Bài học. Thứ Năm ngày 3 tháng 10, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng SưĐĐ Huy Niệm
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 3/10/2019 
Kinh Tất Cả Lậu Hoặc -Sàbbàsava Sutta (tiếp theo)

26. Thế nào là lậu hoặc  phải do phòng hộ được đoạn trừ (āsavā saṁvarā pahātabbā)? 
Đó là những lậu hoặc sanh khởi do sác căn tiếp xúc sáu cảnh. Trong bản dịch chữ saṁvara dịch là phòng hộ mang ý nghĩa là sự chế ngự đối với lậu hoặc chưa sanh hoặc đang có. Khi sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tiếp xúc với các cảnh cần có sự chế ngự bằng  ý thức mạnh mẽ về hệ luỵ do sự chi phối mang lại.

27. Hành giả chế ngự bằng như lý giác sát. Cụm từ “như lý giác sát (paṭisaṅkhā yoniso)” nói lên điều gì? 
Là khả năng nhận ra cả ba phương diện: vị ngọt, nguy hiểm và sự xuất ly. Vị ngọt tạo nên dính mắc; nguy hiểm là  “sự tàn hại và nhiệt não”; và xuất ly là phương cách vượt thoát. 

28. Lậu hoặc sanh do cảnh hay do tâm không như lý giác sát? (tâm động hay phướng động?)
Nói chính xác theo Phật học thì sự việc xẩy ra không đơn thuần một nhân, một duyên. Cảnh có khả năng chi phối tâm mà cách nhận thức như lý giác sát hay không như lý giác sát cũng là một yếu tố khác. Không thể quy hẳn vấn đề nằm ở tâm hay cảnh.
29. Năm cảnh ngoại (sắc, thinh, khí, vị, xúc) có hoàn toàn khác biệt với  cảnh pháp?
Chúng sanh dục giới bị chi phối nhiều bởi năm cảnh sắc, thinh, khí, vị, xúc. Tuy vậy khi nói đến cảnh pháp thì cần hiểu rộng rãi bao gồm “cảnh ngũ quá khứ” có nghĩa là hình ảnh, âm thanh, mùi hương, các vị, xúc chạm sau khi tiếp xúc với các căn thì được xử lý và phản ứng như cảnh pháp. Phần lớn những nhận thức đẹp, ngon, xấu, tốt… của các cảnh đều nằm trong lãnh vực ý thức xử lý “cảnh ngũ quá khứ”. Những phạm trù sâu lắng của tư duy như đam mê thi ca, triết học… thuộc cảnh pháp. Những trạng thái hỷ lạc, thiền chứng … cũng thuộc cảnh pháp. 

30. Lậu hoặc tạo nên tàn hại và nhiệt não là thế nào? 
Tham muốn sanh lo âu, sợ hãi. Tham muốn sanh ý đồ chiếm hữu tranh chấp. Những dục lậu, hữu lậu, kiến lậu, vô minh lậu một khi ngự trị và phát tác khiến tâm bị giao động, bất an, lạc mất phương hướng. Nói cách khác các căn không thủ hộ thì như vết thương không được băng bó dẫn tới nhiễm trùng và nhiều hệ quả khác. Bằng như lý giác sát hành giả có khả năng “các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não chưa sanh không sanh khởi; những lậu hoặc tàn hại và nhiệt não đã sanh được chấm dứt”


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Chữ saṁvarā dịch là phòng hộ có chính xác chăng vì ở đây không phải nói đến những lậu hoặc chưa sanh mà còn nói tới những lậu hoặc đang có? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 2. Tại sao A Tỳ Đàm dạy vai trò “hưởng cảnh” của ngũ song thức rất muội lược thế nhưng trong Kinh Tạng nói đến vai trò chi phối mạnh mẽ của ngũ trần? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 3. Sự phòng hộ sáu căn có khiến cuộc sống không bình thường hay thiếu tự nhiên? - TT Pháp Đăng

Thảo luận 4. Thích triết lý, ghiền làm thơ… có nên xem là sự đam mê đối với cảnh pháp? - ĐĐ Huy Niệm




 III Trắc Nghiệm

Wednesday, October 2, 2019

Bài học. Thứ Tư ngày 2 tháng 10, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng Sư: TT Pháp Đăng
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 2/10/2019 
Kinh Tất Cả Lậu Hoặc -Sàbbàsava Sutta (tiếp theo)

20. Thế nào là lậu hoặc phải do tri kiến đoạn trừ (āsavā dassanā pahātabbā)? 
Đó là những hoang tưởng, ngã chấp do băn khoăn về sự hiện hữu ở quá khứ, vị lai, tại. Đặc câu hỏi sai chỗ thì dẫn đến điên đảo vọng tưởng. Tri kiến có khả năng đoạn trừ những lậu hoặc nầy là hiểu biết thực tiễn khổ, nhân sanh khổ, sự diệt khổ, con đường đưa đến diệt khổ.

21. Câu “ở đây có kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chơn nhơn, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, không tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, không tuệ tri các pháp cần phải tác ý, không tuệ tri các pháp không cần phải tác ý; vị này vì không tuệ tri các pháp cần phải tác ý, vì không tuệ tri các pháp không cần phải tác ý nên tác ý các pháp không cần phải tác ý và không tác ý các pháp cần phải tác ý” phải chăng chỉ cho những người theo ngoại giáo?
Sự thiếu hiểu biết không dựa trên nhãn hiệu tôn giáo. Ở đây chỉ cho người không học hỏi đạo lý chân thực, không diện kiến các bậc thánh đức, không thành thạo đạo lý, không có nội hàm cả hai phương diện học và hành giáo pháp chân thiện.

22.  Tác ý những gì không cần tác ý là suy tư những gì? 
Là suy luận về những gì vượt tầm hiểu biết của mình, từ đó, sanh ra tưởng tượng, giả thuyết, suy đoán, cả tin. Đó là những suy luận “ta đã là ai?, sẽ ra sao?, đang là gì?”
23.  Hoài nghi tam thế dẫn đến hậu quả ra sao?
Từ những suy luận vượt tầm hiểu biết dẫn đến giả thuyết, tưởng tượng, chấp kiến về bản ngã: Có bản ngã (thường kiến), không có bản ngã (đoạn kiến), bản ngã bao gồm cả linh hồn và thể xác, bản ngã chính là linh hồn, bản ngã chính là thể xác, bản ngã luân chuyển từ kiếp nầy xang kiếp khác để gieo nhân và gặt quả.
24. Những từ ngữ tà kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược chỉ cho những gì?
Đó là những suy diễn mơ hồ, những  lập thuyết hay giáo thuyết như thần thoại; những điều càng bàn luận càng hoang mang chỉ dẫn đến tranh cãi, trói buộc.
25. Tác ý những gì cần tác ý có nghĩa thế nào?
Là suy tư với thái độ thực tiễn: Đau khổ là gì? Nguyên nhân nào tạo nên đau khổ? Thế nào là diệt khổ? Phương cách nào để diệt khổ. Vì đau khổ là một thực tại chứ không phải là một chuyện viễn vông. Đau khổ có thể nhận biết trước mắt chứ không là điều vượt tầm hiểu biết. Có bệnh, biết mình bị bệnh, chịu chữa bệnh là thái độ thực tiễn.


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Người Phật tử cũng thường nói về kiếp trước và đời sau. Suy nghĩ về quá khứ và tương lai thế nào để không rơi vào hoài nghi tam thế? - ĐĐ Pháp Tín

Thảo luận 2. Khi nói “có những lậu hoặc phải do tri kiến đoạn trừ” vậy phải chăng có những lậu hoặc cần kiến thức từ pháp học để áp chế? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 3. Nếu một người nói rằng “đồng ý sự hiện hữu của chúng sanh là giòng sanh diệt của thể xác và nội tâm nhưng chúng ta cũng có thể gọi đó là bản ngã”. Cái nhìn đó có phù hợp với Phật pháp chăng?



 III Trắc Nghiệm

Tuesday, October 1, 2019

Bài học. Thứ Ba ngày 1 tháng 10, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng Sư: TT Tuệ Quyền & TT Pháp Tân
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 1/10/2019 
Kinh Tất Cả Lậu Hoặc -Sàbbàsava Sutta

15. Tại sao gọi là Kinh Tất Cả Lậu Hoặc -Sàbbàsava Sutta?
Sở dĩ gọi là Kinh Tất Cả Lậu Hoặc vì là pháp thoại của Đức Phật có nội dung dạy và bảy phương cách đối trị lậu hoặc. Chữ “tất cả” nói lên tánh cách toàn diện.

16. Đại ý Kinh Tất Cả Lậu Hoặc là gì?
Bài kinh ghi lại lời Đức Phật hướng dẫn bảy cách áp chế phiền não ô nhiễm trong tâm. Không phải tất cả lậu hoặc đều giống nhau. Mỗi bệnh có cách trị liệu riêng. Có lậu hoặc phải do tri kiến đoạn trừ. Có lậu hoặc phải do phòng hộ đoạn trừ. Có lậu hoặc phải do thọ dụng đoạn trừ. Có lậu hoặc phải do kham nhẫn đoạn trừ. Có lậu hoặc phải do tránh né đoạn trừ. Có lậu hoặc phải do diệt tận đoạn trừ. Có lậu hoặc phải do tu tập đoạn trừ.

17. Lậu hoặc – àsava nghĩa là gì? lậu hoặc khác nghĩa thế nào với chữ phiền não – kilesa?
Lậu hoặc thuộc phiền não nhưng không phải tất cả phiền não đều là lậu hoặc. Chữ lậu hoặc có nghĩa là những ô nhiễm mang tính lây lan dẫn tới trầm luân sanh tử. Cũng giống như bệnh có thứ truyền nhiễm có thứ không. Có tất cả bốn lậu hoặc.

18. Câu Phật ngôn “Ta giảng sự đoạn tận lậu hoặc cho người thấy, người biết chứ không phải cho người không thấy không biết” hàm nghĩa gì?
Mở đầu bài kinh Đức Phật nhấn mạnh vai trò của như lý tác ý và bất như lý tác ý. Chính do không như lý tác ý nên tất cả lậu hoặc sanh khởi và trong bảy pháp chế ngự lậu hoặc đều y cứ trên như lý tác ý. Người tu tập cần có hiểu biết: hiểu biết chân pháp, hiểu biết cái gì có lợi có hại, hiểu biết phản ứng thế nào là khôn ngoan.

19. Thuật ngữ như lý tác ý (yoniso manasikara) nghĩa là gì?
Thuật ngữ yoniso manasikara được dịch sang tiếng Việt với nhiều từ vựng: như lý tác ý, khéo tác ý, chánh tư niệm, suy nghĩ với thái độ tích cực. Có thể nói đó là cách suy nghĩ y cứ trên Pháp được Bậc Đại Giác giảng dạy; nhận thức và phản ứng từ góc cạnh tích cực. Đa sống phàm nhân suy tư và phản ứng khiến sự việc tệ hại thêm: khiến bản thân phiền khổ và gây thêm khổ luỵ cho người khác. Suy nghĩ như vậy gọi là bất như lý tác ý. (còn tiếp)


ÌI Thảo Luận: TT Chư Tăng điều hành




 III Trắc Nghiệm