Friday, October 11, 2019

Bài học. Thứ Bảy ngày 12-10-2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng Sư: TT Pháp Tân
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 12/10/2019 
4. Kinh Sợ Hãi Khiếp Đảm (Bhayabherava sutta) (tiếp theo)


73. Đức Thế Tôn dạy gì về cách chế ngự sợ hãi?

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Trong những đêm được biết đến, được xác định, đêm mười bốn, đêm mười lăm, đêm mồng tám mỗi nửa tháng, trong những đêm như vậy, Ta hãy đến ở tại các trú xứ hãi hùng, lông tóc dựng ngược, như tự miếu tại các thảo viên, tự miếu tại các rừng núi, tự miếu tại các cây cối, để Ta có thể thấy sự sợ hãi khiếp đảm ấy". Này Bà-la-môn, sau một thời gian, trong những đêm được biết đến, được xác định, đêm mười bốn, đêm mười lăm, đêm mồng tám mỗi nữa tháng, trong những đêm như vậy, Ta đến ở tại các trú xứ hãi hùng, lông tóc dựng ngược như vậy, như tự miếu tại các thảo viên, tự miếu tại các rừng núi, tự miếu tại các cây cối. Này Bà-la-môn, trong khi ta ở tại các chỗ ấy, một con thú có thể đến, hay một con công làm rơi một cành cây, hay gió làm rung động các lá rơi; Ta khởi lên ý nghĩ: "Nay sự sợ hãi khiếp đảm ấy đã đến!". Này Bà-la-môn, rồi Ta suy nghĩ: "Sao Ta ở đây, chỉ để mong đợi sự sợ hãi khiếp đảm chớ không gì khác? Trong bất cứ hành vi cử chỉ nào của Ta mà sợ hãi khiếp đảm ấy đến, trong hành vi cử chỉ ấy, Ta hãy trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy".

Này Bà-la-môn trong khi Ta đi kinh hành qua lại mà sợ hãi khiếp đảm ấy đến, thì này Bà-la-môn, Ta không đứng, Ta không ngồi, Ta không nằm, nhưng Ta trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy trong khi Ta đi kinh hành qua lại. Này Bà-la-môn, trong khi Ta đang đứng mà sự sợ hãi khiếp đảm ấy đến, thì này Bà-la-môn, Ta không kinh hành qua lại, Ta không ngồi, Ta không nằm, nhưng Ta trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy trong khi Ta đang đứng. Này Bà-la-môn, trong khi Ta đang ngồi mà sợ hãi khiếp đảm ấy đến, thì này Bà-la-môn, Ta không nằm, Ta không đứng, Ta không kinh hành qua lại, nhưng Ta trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy trong khi Ta đang ngồi. Này Bà-la-môn, trong khi Ta đang nằm mà sợ hãi khiếp đảm ấy đến, thì này Bà-la-môn, Ta không ngồi, Ta không đứng, Ta không kinh hành qua lại, nhưng Ta trừ diệt sợ hãi khiếp đảm ấy trong khi Ta đang nằm.

Này Bà-la-môn, có một số Sa-môn, Bà-la-môn nghĩ rằng ngày giống như đêm, nghĩ rằng đêm giống như ngày. Như vậy, Ta nói rằng những Sa-môn, Bà-la-môn ấy sống trong si ám. Này Bà-la-môn, Ta nghĩ rằng đêm là đêm, nghĩ rằng ngày là ngày. Này Bà-la-môn, ai nói một cách chơn chánh sẽ nói như sau: "Vị hữu tình nào không có si ám, sinh ra ở đời vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người. Vị ấy khi nói một cách chân chánh về Ta sẽ nói như sau: "Là vị hữu tình không có si ám, sinh ra ở đời vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người".

74. Phải chăng sống ở nơi thanh vắng không phải chỉ dừng lại ở đó?

Này Bà-la-môn, Ta tinh cần, tinh tấn, không lười biếng. Ta an trú chánh niệm, không có loạn, thân được khinh an, không có dao động, tâm được định tĩnh, chuyên nhất.

Này Bà-la-môn, Ta ly dục, ly các ác pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ.

Diệt tầm, diệt tứ, Ta chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm.

Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, Ta chứng và an trú Thiền thứ ba.

Xả lạc và xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, Ta chứng và an trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng trí. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: "Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ này. Tại chỗ này, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ này, Ta được sanh ra ở đây". Như vậy Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.

Này Bà-la-môn, trong đêm canh đầu Ta chứng được minh thứ nhất, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến sanh tử trí về chúng sanh. Ta với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự sống và sự chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ác hạnh về lời nói, ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời này. Như vậy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, Ta thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ.

Này Bà-la-môn, trong đêm canh giữa, Ta chứng được minh thứ hai, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Ta thắng tri như thật: "Ðây là khổ", thắng tri như thật: "Ðây là nguyên nhân của khổ", thắng tri như thật: "Ðây là khổ diệt", thắng tri như thật: "Ðây là con đường đưa đến khổ diệt", thắng tri như thật: "Ðây là những lậu hoặc", thắng tri như thật: "Ðây là nguyên nhân các lậu hoặc", thắng tri như thật: "Ðây là các lậu hoặc diệt", thắng tri như thật: "Ðây là con đường đưa đến các lậu hoặc diệt".

Nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên trí hiểu biết: Ta đã giải thoát. Ta đã thắng tri: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".

Này Bà-la-môn trong đêm canh ba, Ta chứng được minh thứ ba, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

75. Tại sao sau khi thành đạo Đức Thế Tôn vẫn sống ở những trú xứ thanh vắng?

Này Bà-la-môn, Ông có thể có tư tưởng như sau: "Nay Sa-môn Gotama chưa diệt trừ tham, chưa diệt trừ sân, chưa diệt trừ si, nên sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, chớ có hiểu như vậy. Do Ta quán sát hai mục đích mà Ta sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Tự thấy sự hiện tại lạc trú và vì lòng thương tưởng chúng sanh trong tương lai.



ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Có những người ưa chuộng sống nên cô tịch một mình thì có thể được xem là đời sống độc cư được Đức Phật khuyến khích? - TT Tuệ Siêu

 Thảo luận 2. Có trường hợp Tôn giả Upàli xin Đức Phật vào rừng để hành thiền thì Đức Phật khuyên nên ở lại tu học giữa Tăng chúng. Câu chuyện nầy nên được hiểu thế nào? - TT Tuệ Siêu

 Thảo luận 3. Phải chăng hầu hết những người thực hành thiền chỉ, thiền quán đều cần trú xứ thanh vắng? - TT Pháp Tân 

Thảo luận 4. Người ta thường nói “ăn cơm có canh, tu hành có bạn” điều nầy có phù hợp với tinh thần Phật Pháp chăng? - ĐĐ Nguyên Thông

Thảo luận 5. TT Giác Đẳng đúc kết phần thảo luận



 III Trắc Nghiệm

Bài học. Thứ Sáu ngày 11 tháng 10, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng Sư: TT Giác Đẳng
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 11/10/2019 
4. Kinh Sợ Hãi Khiếp Đảm (Bhayabherava sutta)


68. Tại sao gọi là Kinh Sợ Hãi Khiếp Đảm?
Tên kinh được gọi là Kinh Sợ Hãi Khiếp Đảm vì Đức Phật dạy về nỗi sợ hãi của người tu hành trong rừng sâu núi thẳm. 

69. Đại ý Kinh Sợ Hãi Khiếp Đảm là gì?
Bà la môn Jànussonì bạch với Đức Phật về sự trợ duyên của Ngài đối với chư tỳ kheo tu hành. Cũng nhân dịp nầy vị Bà la môn nói nên sự khó khăn của những tỳ kheo khi phải sống nơi thanh vắng. Đức Phật xác định cả hai suy tư đó là đúng. Rồi Ngài kể lại kinh nghiệm bản thân sống ở những trú xứ xa vắng trước khi thành đạo. Qua những lời kể nầy Đức Phật dạy làm thế nào để tạo được lòng tự tin và chế ngự nỗi sợ hãi. Ngài Cũng dạy rằng sống độc cư không dừng ở đó mà còn đi xa hơn là tận dụng nếp sống nầy để thành tựu thiền định, đạo quả. Ở đoạn cuối Đức Phật cũng cho biết lý do tại sao trong hiện tại mặc dù đã là một bậc giác ngộ giải thoát hoàn toàn Ngài vẫn có thời gian sống độc cư. 

70. Xin cho biết vài chi tiết về Bà la môn Jānussonī

Jānussonī là một trong những vị bà la môn danh giá ở thành Savatthi. Vị nầy thường diện kiến Đức Phật với những câu hỏi tỷ giảo đạo giáo. Nhiều bài kinh trong Tam Tạng Pali ghi lại những pháp thoại Đức Thế Tôn giảng cho Jānussonī. Riêng bài kinh nầy, Kinh Sợ Hãi Khiếp Đảm, ghi là sự phát tâm quy ngưỡng Tam Bảo để trở thành đệ tử Phật của vị bà la môn nầy.

71. Nỗi sợ hãi khi sống trong rừng vắng có phải là bản năng tự nhiên mà chúng ta không làm gì được?

Sợ hãi đúng là phản ứng tự nhiên của tâm lý khi sống trong rừng sâu nhưng, qua lời dạy của Đức Phật, thì không phải là không có cách để vượt thắng tâm trạng nầy. Nội dung chính của bài kinh đề cập đến yếu tố mang lại lòng tự tin và từ đó có khả năng xua tan nỗi sợ hãi.

72. Những yếu tố tâm lý nào tạo nên lòng tự tin? 

[Lòng tự tin đến từ tam nghiệp thanh tịnh]
Này Bà-la-môn, rồi Ta suy nghĩ: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào, thân nghiệp không thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước, thân nghiệp không thanh tịnh, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có thân nghiệp không thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Thân nghiệp Ta thanh tịnh. Ta là một trong những bậc Thánh, với thân nghiệp thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát thân nghiệp hoàn toàn thanh tịnh này, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn, hay Bà-la-môn nào, có khẩu nghiệp không thanh tịnh... (như trên)... có ý nghiệp không thanh tịnh... (như trên)... có mạng sống không thanh tịnh sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước mạng sống không thanh tịnh, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có mạng sống không thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Mạng sống Ta thanh tịnh. Ta là một trong những bậc Thánh, với mạng sống thanh tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát mạng sống hoàn toàn thanh tịnh này, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

[Lòng tự tin vì không có năm triền cái]

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào tham dục, có ái dục cường liệt, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước tham dục, có ái dục cường liệt, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có tham dục, ái dục cường liệt, sống tại các trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu. Ta không có tham dục, Ta là một trong những bậc Thánh, không có tham dục, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta không có tham dục như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào có tâm sân hận ác ý, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước, có tâm sân hận ác ý, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có tâm sân hận, ác ý, sống tại các trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu. Ta có từ tâm. Ta là một trong những bậc Thánh có từ tâm, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta có từ tâm như vậy, Ta cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào bị hôn trầm thụy miên chi phối, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước bị hôn trầm thụy miên chi phối, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không bị hôn trầm thụy miên chi phối, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta không có hôn trầm thụy miên. Ta là một trong những bậc Thánh không có hôn trầm thụy miên, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta không có hôn trầm thụy miên như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào dao động, tâm không an tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước bị dao động, tâm không an tịnh, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có dao động, tâm không phải không an tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta không có dao động, tâm được an tịnh. Ta là một trong những bậc Thánh không có dao động, tâm được an tịnh, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát tâm Ta được an tịnh như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào nghi hoặc, do dự, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước nghi hoặc, do dự, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có nghi hoặc, do dự, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta diệt trừ được do dự. Ta là một trong những bậc Thánh diệt trừ được nghi hoặc, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát tâm Ta diệt trừ được nghi hoặc như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

[Tự tin vì không có những thói tật hạ liệt]
Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào khen mình, chê người sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước khen mình, chê người, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có khen mình, chê người, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta không có khen mình, không có chê người, Ta là một trong những bậc Thánh không có khen mình, không có chê người, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát tâm Ta không có khen mình, không có chê người như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào run rẩy, sợ hãi sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước run rẩy, sợ hãi, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có run rẩy, sợ hãi, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta không có lông tóc dựng ngược, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta không có lông tóc dựng ngược, Ta là một trong những bậc Thánh, không có lông tóc dựng ngược như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào ham muốn lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước ham muốn lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có ham muốn lợi dưỡng, cung kính, danh vọng, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta là người ít dục. Ta là một trong những bậc Thánh ít dục, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta là người ít dục như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào biếng nhác, kém tinh tấn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước biếng nhác, kém tinh tấn, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có biếng nhác, kém tinh tấn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta siêng năng, tinh tấn. Ta là một trong những bậc Thánh siêng năng, tinh tấn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta siêng năng, tinh tấn như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thất niệm, không tỉnh giác, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước thất niệm, không tỉnh giác, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có thất niệm, không phải không tỉnh giác, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta an trú niệm. Ta là một trong những bậc Thánh an trú niệm, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta an trú niệm như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không định tĩnh, tâm bị tán loạn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu, do nguyên nhân nhiễm trước không định tĩnh, tâm bị tán loạn, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta được định tĩnh, tâm không bị tán loạn sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta thành tựu định tâm. Ta là một trong những bậc Thánh thành tựu định tâm, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta thành tựu định tâm như vậy, từ cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

Này Bà-la-môn, tùy thuộc vấn đề này, Ta suy nghĩ như sau: "Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào liệt tuệ, đần độn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Do nguyên nhân nhiễm trước liệt tuệ, đần độn, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn ấy chắc chắn làm cho sợ hãi, khiếp đảm, bất thiện khởi lên. Ta không có liệt tuệ, đần độn, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu. Ta thành tựu trí tuệ. Ta là một trong những bậc Thánh thành tựu trí tuệ, sống tại các trú xứ xa vắng, trong rừng núi hoang vu". Này Bà-la-môn, Ta tự quán sát Ta thành tựu trí tuệ như vậy, tự cảm thấy lòng tự tin được xác chứng hơn, khi sống trong rừng núi.

(còn tiếp)


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành



 III Trắc Nghiệm

Trắc nghiệm 1. Câu nào sau đây phù hợp với tinh thần của bài kinh hôm nay? 
A. Sợ hãi khiếp đảm khi sống trong hoang liêu cô tịch là phiền não ác xấu /
 B. Sợ hãi khiếp đảm khi sống trong hoang liêu cô tịch là điều tự nhiên không có gì phải bận tâm / 
C. Sợ hãi khiếp đảm khi sống trong hoang liêu cô tịch là điều tự nhiên nhưng nếu khéo tu tập thì có thể chế ngự /
 D. Sợ hãi khiếp đảm khi sống trong hoang liêu cô tịch là điều cần tránh đối với người tu


TT Tuệ Siêu cho đáp án trắc nghiệm 1: C

Trắc nghiệm 2. Những điểm nào sau đây có thể giúp tạo nên lòng tự tin để áp chế nỗi sợ hãi khi sống một mình?
 A. Tam nghiệp hiền thiện, và ý thức về điều đó /
 B. Nội tâm không bị ngự trị bởi năm triền cái, và ý thức về điều đó / 
C. Không có những thói tật hạ liệt như tự tán huỷ tha, ham danh ham lợi, trí tuệ hạ liệt…, và ý thức về điều đó/ 
D. Cả ba câu trên đều đúng

ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án trắc nghiệm 2: D

Trắc nghiệm 3. Mục đích chân chánh của đời sống độc cự nơi hoang sơ cô tịch trong bài kinh ở điểm nào sao đây? 
A. Hưởng được sự thanh nhàn/ 
B. Để trưởng dưỡng được những sức mạnh nội tại / 
C. Để không ai làm phiền mình/ 
D. Để gần với các đấng thiêng liêng


TT Tuệ Siêu cho đáp án trắc nghiệm 3: B

Trắc nghiệm 4. Tại sao những thói tật bất thiện như khen mình chê người, ham danh ham lợi, biếng nhác … lại khiến lớn mạnh nỗi sợ hãi khiếp đảm?
 A. Vì những thói tật đó khiến thiện pháp không lớn mạnh trong nội tâm. / 
B. Vì những thói tật đó nuôi dưỡng ảo giác về bản ngã nên khiến tăng trưởng nỗi sợ hãi khi sống nơi cô tịch /
 C. Càng phiền não tâm càng yếu /
 D. Cả ba câu trên đều đúng.


TT Tuệ Quyền cho đáp án trắc nghiệm 4: D

Trắc nghiệm 5. Cách để tạo lòng tự tin áp chế sợ hãi khi sống một mình chốn hoang sơ theo bài kinh nầy là điều nào sau đây?
 A. Có đời sống hiền thiện, thanh tịnh /
B. Ý thức sự hiền thiện, thanh tịnh bằng sự tự xét / 
C. Hiểu rõ bản chất của sự sợ hãi và dám đối diện với cảm xúc đó / 
D. Cần có cả ba điều a, b, c


ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án trắc nghiệm 5: D

Wednesday, October 9, 2019

Bài học. Thứ Năm ngày 10 tháng 10, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng SưĐĐ Huy Niệm
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 10/10/2019 
3. Kinh thừa tự Pháp (Dhammadàyàda sutta) (tiếp theo)


61. Sau khi Đức Phật trở về tư thất, Tôn giả Sàriputta tiếp tục pháp thoại với những điều gì?
Tôn giả Sàriputta là bậc thượng thủ thinh văn đệ tử Phật thường giữ vai trò giáo thọ giảng dạy giáo pháp cho Tăng chúng thay thế Đức Phật. Bài kinh nầy ghi lại nhân duyên thường có là Đức Phật giảng dạy cho chư tăng hằng ngày. Nhưng hôm ấy Đức Thế Tôn nói rất ngắn và sau khi Ngài về tịnh thất thì Tôn giả Sàriputta tiếp tục.
Nói về sự truyền thừa thì Tôn giả nêu lên hai trường hợp áp dụng cho ba bậc tỳ kheo và hai mô tả về con đường được Đức Phật truyền dạy.
Hai trường hợp là Bậc Đạo Sư sống viễn ly mà các đệ tử không học theo viễn ly; và Bậc Đạo Sư sống viễn ly, các đệ tử  học theo viễn ly.
Ba bậc tỳ kheo là trưởng lão tỳ kheo, trung toạ tỳ kheo và tân tỳ kheo.
Hai mô tả về hai mô tả về con đường được Đức Phật truyền dạy là con đường Trung Đạo đối trị ba căn bất thiện tham, sân, si; và con đường Trung Đạo đối sở hành ác quấy.
Chữ “sống viễn ly” trong phần đầu nên được hiểu là cách nói tổng quát về đời sống phạm hạnh hay sự tu hành chân thực.


62. Sống viễn ly (viveka) trong câu “Này chư Hiền, vị Ðạo Sư sống viễn ly, các đệ tử tùy học viễn ly. Những pháp nào, vị Ðạo Sư dạy nên từ bỏ, những pháp ấy họ từ bỏ; và họ không sống trong sự đầy đủ, không lười biếng, họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về sống viễn ly” mang ý nghĩa thế nào?
Đó là đời sống rời xa phồn vinh vật chất, không trộn lẩn với sinh hoạt thế tục, không gắn kết với dục tầm, sân tầm, hại tầm.

63. Sống với hạnh từ bỏ (pahānamāha) nghĩa là gì?
Là hướng đi ngược là thói thường là thủ đắc, chất chứa, sở hữu. Vị ấy có khả năng buông bỏ ngay cả những địa vị, danh vọng, lợi đắc trong đời sống phạm hạnh. Xa hơn nữa là khả năng buông xả những cảm thọ dục hỷ, những sở đắc sở chứng mang tánh giai đoạn để tiếp tục hành trình tới cứu cánh giác ngộ giải thoát.

64. Không sống sung túc (Na ca bāhulikā), không lười biếng (na sāthalikā) , không dẫn đầu đọa lạc và xao lãng đời sống viễn ly (okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā) nên được hiểu thế nào?
Là không sống xa hoa, lợi dưỡng. Sống với sự tinh cần phấn đấu không ngừng nghỉ. Sống hướng thượng và luôn tha thiết với đời sống phạm hạnh chân thực. ( Câu “họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về sống viễn ly” có vấn đề về dịch thuật). 

65. Tại sao lại đề cập tới ba bậc tỳ kheo?
Điều nầy hàm nghĩa là vị xuất gia dù ở hạ lạp nào nếu không học theo lối sống và lời dạy của Đức Phật đều đáng trách. Ngược lại dù ở thứ bậc nào trong Tăng chúng mà học theo lời Phật dạy đều đáng tán thán.

66. Con đường Đức Phật truyền dạy đích thực là gì?

[Những pháp cần từ bỏ trên phương diện gốc rễ]
Ở đây, này chư Hiền, tham là ác pháp, và sân cũng là ác pháp, 

[Những pháp cần từ bỏ trên phương diện sở hành]
“ phẫn nộ là ác pháp và hiềm hận cũng là ác pháp, giả dối là ác pháp và não hại cũng là ác pháp, tật đố là ác pháp và xan lẫn cũng là ác pháp, man trá là ác pháp và phản bội cũng là ác pháp, ngoan cố là ác pháp và bồng bột nông nổi cũng là ác pháp, mạn là ác pháp và tăng thượng mạn cũng là ác pháp, kiêu là ác pháp và phóng dật cũng là ác pháp”.

(Phương cách tu tập)
“Có một con đường Trung đạo diệt trừ tham,  diệt trừ sân, diệt trừ si….
Có một con đường Trung đạo diệt trừ kiêu và diệt trừ phóng dật, khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và này chư Hiền, con đường Trung đạo ấy là gì - (con đường) khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Ðó là con đường Thánh tám ngành, tức là: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Này chư Hiền, đó là con đường Trung đạo khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn”.

67. Tại sao có hai mô tả về con đường Trung Đạo?

Hai con đường Trung Đạo là một. Đều là bát chánh đạo hay tam học giới, định, tuệ nhưng bất thiện pháp phải được nhận diện trên cả hai phương diện là cội rễ (tham, sân, si) và sở hành (phẫn nộ, hiềm hận, não hại…)



ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Xin giải rõ ý nghĩa câu okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā (bản dịch: họ bỏ rơi gánh nặng về đọa lạc và dẫn đầu về sống viễn ly) - TT Tuệ Siêu

 Thảo luận 2. Tôn giả Sàriputta không nói về thừa tự pháp nhưng phải chăng khi nói “bậc Đạo Sư sống viễn ly, đệ tử học theo hạnh viễn ly” thì hàm nghĩa chính sự “sống theo gương lành của Bậc Đạo Sư” chính là sự thừa tự pháp bảo đúng nghĩa? - TT Tuệ Siêu

TK Giac Dang: satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekaṁ nānusikkhanti, yesañca dhammānaṁ satthā pahānamāha, te ca dhamme nappajahanti, bāhulikā {bāhullikā (syā.)} ca honti, sāthalikā, okkamane pubbaṅgamā, paviveke nikkhittadhurā. tatrāvuso, therā bhikkhū tīhi ṭhānehi gārayhā bhavanti.
idhāvuso, satthu pavivittassa viharato sāvakā vivekamanusikkhanti — yesañca dhammānaṁ satthā pahānamāha te ca dhamme pajahanti; na ca bāhulikā honti, na sāthalikā okkamane nikkhittadhurā paviveke pubbaṅgamā. tatrāvuso, therā bhikkhū tīhi ṭhānehi pāsaṁsā bhavanti.
okkamane nikkhittadhurā (buông bỏ đời sống sa đoạ) > đáng được tán thán
paviveke pubbaṅgamā (hướng đến viễn ly )> đáng được tán thán

Thảo luận 3. Tại sao trong bài kinh nầy khi đề cập đến con đường Đức Phật truyền dạy thì Tôn giả Sàriputta không nói sẽ thành tựu được gì mà là từ bỏ những gì (Ở đây, này chư Hiền, tham là ác pháp, và sân cũng là ác pháp. Phẫn nộ là ác pháp và hiềm hận cũng là ác pháp, giả dối là ác pháp và não hại cũng là ác pháp, tật đố là ác pháp và xan lẫn cũng là ác pháp, man trá là ác pháp và phản bội cũng là ác pháp, ngoan cố là ác pháp và bồng bột nông nổi cũng là ác pháp, mạn là ác pháp và tăng thượng mạn cũng là ác pháp, kiêu là ác pháp và phóng dật cũng là ác pháp)?. - TT Tuệ Siêu

TK Giac Dang [09:46]: Đó là con đường Trung đạo khiến (tịnh) nhãn sanh, khiến (chân) trí sanh, hướng đến tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn”.


Thảo luận 4. Từ bài kinh hôm nay xin tóm lược ý nghĩa thế nào là sự thừa tự tài sản Đức Phật để lại cho chúng ta? - TT Pháp Đăng

Thảo luận 5. Câu Phật ngôn: "các con hãy là người thừa tự pháp bảo đừng là kẻ thừa tự tài vật" có nên thường nhắc nhở để giải quyết nhiều vấn đề tiêu cực trong Đạo Phật ngày nay? - TT Tuệ Quyền

Thảo luận 6. TT Giác Đẳng đúc kết phần thảo luận - dhammadāyādā bhaveyyuṁ, no āmisadāyādā’ti


 III Trắc Nghiệm

Tuesday, October 8, 2019

Bài học. Thứ Tư ngày 9 tháng 10, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng Sư: TT Pháp Đăng
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 9/10/2019 
3. Kinh thừa tự Pháp (Dhammadàyàda sutta)


56. Tại sao gọi là Kinh Thừa Tự Pháp (Dhammadàyàda sutta?
Gọi là Kinh Thừa Tự Pháp vì mang nội dung với lời kêu gọi của Đức Phật đối với hàng đệ tử hãy kế thừa giá trị pháp bảo và đừng kế thừa giá trị tài vật. Đoạn sau của bài kinh ghi lại pháp thoại ngắn của Tôn giả Sàriputta giảng về thế nào là người học trò học theo hạnh đức của thầy tổ. 

57. Đại ý Kinh Thừa Tự Pháp là gì?
Thuở ấy Đức Thế Tôn trú tại chùa Kỳ Viên, Savatthi, Ngài khuyến giáo: “Này các Tỷ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật. Ta có lòng thương tưởng các Ngươi và Ta nghĩ: "Làm sao những đệ tử của Ta là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật?". Rồi Đức Thế Tôn kể lại một giai thoại về hai vị tỳ kheo để làm rõ ý nghĩa. Sau khi Đức Thế Tôn trở về tư thất, Tôn giả Sàriputta tiếp tục pháp thoại bằng cách đề cập đến hình ảnh vị Đạo sư sống viễn ly và đệ tử học theo hạnh viễn ly.

58. Đức Phật đã kể lại câu chuyện gì?
Ngài kể về chuyện hai tỳ kheo đến diện kiến gặp lúc Đức Thế Tôn vừa thọ thực xong. Cả hai tỳ kheo đi đường xa đều đói lả. Đức Phật thấy vậy dạy rằng sau bữa ăn của Ngài vẫn còn lại nếu muốn hai vị có thể ăn. Một trong hai tỳ kheo nghĩ rằng:  Thế Tôn có dạy: "Này các Tỷ-kheo, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là người thừa tự tài vật" vậy ta hãy chịu đói thay vì ăn. Vị tỳ kheo khác thì xin thọ thực để tiêu trừ cơn đói. Đức Phật sau khi kể lại thì kết luận: Đối với Ta, Tỷ-kheo đầu tiên đáng được kính nể hơn, và đáng được tán thán hơn. Vì sao vậy? Vì như vậy sẽ đưa đến cho Tỷ-kheo ấy, trong một thời gian lâu ngày, ít dục, biết đủ, khổ hạnh, dễ nuôi dưỡng, tinh cần, tinh tấn. 

59. Phải chăng trong câu chuyện đề cập đến hai tỳ kheo, Đức Phật chỉ có khen mà không có chê?
Đúng vậy. Ngài không chê trách vị tỳ kheo đã ăn thực phẩm còn lại. Tuy vậy Ngài đặc biệt tán thán vị tỳ kheo vì nghĩa đến lời dạy: “Hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là người thừa tự tài vật" mà quyết tâm chịu đựng sự đói khát. 
60. Thừa tự pháp được hiểu chính xác là thế nào?
Trong sự tồn tại của giáo pháp luôn luôn có cả hai mặt vật chất và tinh thần. Tinh thần ở đây là giáo pháp, hơn thế nữa là tinh hoa của giáo pháp. Một người đến với giáo pháp có học, có hiểu, có thực hành, có chứng ngộ, có chia sẻ thì gọi là người thừa tự pháp. 
(còn tiếp)


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Sự kế thừa cơ sở vật chất có ưu khuyết điểm thế nào so với sự kế thừa tinh hoa của giáo pháp trong Đạo Phật? - TT Tuệ Siêu 


Thảo luận 2. Khi Đức Phật dạy “Ta có lòng thương tưởng các con và Ta nghĩ: "Làm sao những đệ tử của Ta là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật?" thì ý nghĩa của mệnh đề “Ta có lòng thương tưởng các con” nên được hiểu thế nào? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 3. Ai trong chúng ta là người thật sự kế thừa gia tài của Đức Phật để lại? Có phải tất cả người con Phật đều hưởng được di sản Đức Từ Phụ để lại? - TT Tuệ Siêu


Thảo luận 4. Lịch sử của Phật giáo đã cho thấy gì về “sự kế thừa tài vật, kế thừa giáo pháp”? - TT Pháp Tân

Thảo luận 5. Tại sao có nhiều Phật tử không tha thiết thừa kế gia tài giáo pháp mà Đức Phật để lại? - TT Tuệ Quyền

Thảo luận 6. Chúng ta có nên lựa chọn những gì nên được thừa kế trong di sản vĩ đại của Đức Phật? - ĐĐ Nguyên Thông

Thảo luận 7. TT Giác Đẳng đúc kết phần thảo luận


 III Trắc Nghiệm

Monday, October 7, 2019

Bài học. Thứ Ba ngày 8 tháng 10, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng Sư: TT Tuệ Quyền
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 8/10/2019 
Kinh Tất Cả Lậu Hoặc -Sàbbàsava Sutta (tiếp theo)

51. Thế nào là các lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ?
Ái chấp, vô minh là những lậu hoặc phải được đoạn bằng tuệ giác. Giác ngộ chân tướng vạn pháp, cắt đứt kiết sử là mục tiêu cao cả của đời sống phạm hạnh. Để thành tựu đích điểm nầy bảy giác chi cần được tu tập.
52. Bảy giác chi gồm những pháp gì? 
Thất giác chi tức bảy yếu tố dẫn đến thành tựu tuệ giác gồm có:
Niệm giác chi tức yếu tố minh sát
Trạch pháp giác chi tức yếu tố phân biệt
Cần giác chi tức yếu tố tinh tấn
Hỷ giác chi tức yếu tố an lạc
Tịnh giác chi tức yếu tố vắng lặng
Ðịnh giác chi tức yếu tố chuyên nhất
Xả giác chi tức yếu tố quân bình.

53. Câu “Bảy giác chi tu tập với y viễn ly, y ly tham, y đoạn diệt (vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ) mang ý nghĩa gì?
Đây là ba điều kiện trợ duyên cho sự tu tập thất giác chi. Viễn ly được hiểu là khả năng xa lìa những chướng ngại tu tập; ly tham là không tìm dục hỷ ở những tham luyến; đoạn diệt là khả năng cắt đứt những gì cần từ bỏ. 

54. Mệnh đề “ Dẫn đến xả ly (vossaggapariṇāmiṃ)” nên được hiểu thế nào?
Là sự buông xả những gì chấp thủ, chặt đứt cá sợi dây kiết sử cột trói, giác ngộ bản chất thực của các pháp. Giác ngộ giải thoát là cánh cửa dẫn đến cứu cánh Niết bàn. Xả ly ở đây hàm ý cho sự giải thoát.

55. Tại sao khả năng giải thoát thật sự cần tuệ giác? 
Tuệ giác được ví dục như kim cang chuỳ có khả năng chọc thủng màn vô minh vốn bao phủ dòng sanh tử. Đối với vô minh, ái dục không thể xoá tan bằng tư kiến, bằng phước báu, bằng định lực mà chỉ có tuệ giác mới đập vỡ màng bao bọc. Thất giác chi là bảy yếu tố để thắp sáng tuệ giác đó.


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Thuật ngữ bhāvanā ở đây được dịch là tu tập là một từ vựng Phật học quen thuộc đôi khi cũng được dịch là “tham thiền”. Ý nghĩa chính xác của thuật ngữ nầy là gì? - TT Tuệ Siêu 


Thảo luận 2. Thuật ngữ passadhisambojjhaṅgo được dịch là tịnh giác chi mà cũng dịch là khinh an giác chi. Hai từ Việt dịch thì từ nào tinh xác hơn? - TT Tuệ Siêu 

Thảo luận  3. Thất giác chi được hiểu là bảy chi phần để thành tựu tuệ giác là một phần của pháp trợ bồ đề (bodhipakkhiya). Nếu chỉ tu tập bát chánh đạo không đủ sao lại phải tu tập thất giác chi và những pháp trợ đạo khác? - TT Tuệ Siêu 


Thảo luận 4. Khi Đức Phật dạy: Này các Tỷ-kheo, có những lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ. Phật ngôn nầy cho chúng ta những gợi ý gì về lậu hoặc phiền não? - TT Pháp Tân

Thảo luận 5. Đương đầu với lậu hoặc phiền não chúng ta có cần “khôn khéo” chăng? - ĐĐ Pháp Tín 

Thảo luận  6. Nếu chúng ta nói: “Với người tu Phật nếu mình phiền não là do không khéo tu” Nói như vậy có hợp lý chăng? - TT Pháp Đăng 


Thảo luận 7. Tuệ giác thành tựu do thất giác chi có phải là tuệ tu (hay tu huệ)? - ĐĐ Nguyên Thông



 III Trắc Nghiệm