Thursday, November 14, 2019

Bài học. Thứ Năm ngày 14 tháng 11, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng Sư: TT Giác Đẳng
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 14/11/2019 
10. Kinh Niệm Xứ (Satipatthàna sutta)(tiếp theo)

170. Quán tâm trên tâm (bhikkhu citte cittānupassī viharati) được hiểu thế nào?

Ở đây, Tỷ-kheo, với tâm có tham, biết rõ: "Tâm có tham"; hay với tâm không tham, biết rõ: "Tâm không tham". Hay với tâm có sân, biết rõ: "Tâm có sân"; hay với tâm không sân, biết rõ: "Tâm không sân". Hay với tâm có si, biết rõ: "Tâm có si"; hay với tâm không si, biết rõ: "Tâm không si". Hay với tâm thâu nhiếp, biết rõ: "Tâm được thâu nhiếp". Hay với tâm tán loạn, biết rõ: "Tâm bị tán loạn". Hay với tâm quảng đại, biết rõ: "Tâm được quảng đại"; hay với tâm không quảng đại, biết rõ: "Tâm không được quảng đại". Hay với tâm hữu hạn, biết rõ: "Tâm hữu hạn". Hay với tâm vô thượng, biết rõ: "Tâm vô thượng". Hay với tâm có định, biết rõ: "Tâm có định"; hay với tâm không định, biết rõ: "Tâm không định". Hay với tâm giải thoát, biết rõ: "Tâm có giải thoát"; hay với tâm không giải thoát, biết rõ: "Tâm không giải thoát".
Như vậy vị ấy sống quán tâm trên nội tâm; hay sống quán tâm trên ngoại tâm; hay sống quán tâm trên nội tâm, ngoại tâm. Hay sống quán tánh sanh khởi trên tâm; hay sống quán tánh diệt tận trên tâm; hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm. "Có tâm đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm. 

Biết rõ nội tâm bằng sự ghi nhận khách quan không liên hệ đến ngã chấp. Thí dụ tâm có định, biết rõ tâm có định. Chứ không nghĩ: TÔI có định hay TÔI không có định.
Ghi nhận cả hai mặt của tâm: có tham hay không có tham….chỉ đơn giản là sự tương phản không có gì phải hãnh diện hay bực bội.
Cho dù tâm ở trạng thái nào chỉ ghi nhận để nuôi dưỡng chánh niệm chứ không cố ý tạo nên trạng thái nầy, trạng thái kia. Ghi nhận biết rõ một cách đơn thuần.
Mỗi lần chỉ một thứ tâm hiện hữu. Tâm ham muốn và tâm chánh niệm thấy được tâm ham muốn có thể làm hành giả bối rối. Kỳ thật thì khi quán sát tâm thì trạng thái “bị quán sát” thường biến mất trong khoảnh khắc trước (trở thành cảnh vừa qua). Với hành giả tu tứ niệm xứ thì cái gì vừa biến mất (giống như trong ngữ pháp là “quá khứ hoàn thành hay quá khứ tiếp diễn) cũng nằm trong khung thời gian hiện tại. 

171. Tâm quán niệm xứ được áp dụng thế nào?

Ba trường hợp thường được các vị thiền sư hướng dẫn về tâm quán niệm xứ:
Quán tâm khi một tạp niệm xuất hiện. Đang niệm hơi thở bất chợt một suy nghĩ về việc gì đó hiện khởi. Hành giả ghi nhận “phóng tâm” và nhanh chóng trở về với hơi thở hay đề mục đang niệm.
Quán tâm với sự ghi nhận rõ ý định (danh) và hành động (sắc). Thí dụ đang ngồi thiền muốn đứng dậy đi nhà vệ sinh thì hành giả cần ghi nhận ý định trước khi chuyển đổi tư thế từ ngồi sang đứng dậy.
Quán tâm là ý thức được khuynh hướng của tâm trong một ngày hay một giai đoạn nào đó như ý thức “lúc nầy tâm thường nghĩ nhiều về công việc hoặc tâm thường nghĩ về hận thù oan trái…”

172. Tâm quán niệm xứ có thể thực hành riêng lẻ?

Giống như thọ quán niệm xứ, tâm quán niệm xứ thường được áp dụng chung với những pháp niệm khác (như niệm hơi thở). Ở giai đoạn sơ cơ hành giả thường được dạy về thân quán niệm xứ như đối tượng quán sát căn bản cho đến khi những tạp niệm xuất hiện thì quán sát tâm nhưng cần nhanh chóng trở về với hơi thở. Phải rất cẩn trọng để sự quán sát tâm không dẫn hành giả đi quá xa đề mục niệm chính.

173. Phân biệt danh sắc có lợi ích gì?

Danh là tâm. Sắc là thân. Phân biệt danh sắc để thấy rõ tương quan giữa ý định và hành động. Với chánh niệm sắc xảo hành giả cũng nhận ra nhu cầu của tâm là phiền não chứ không nhất thiết là nhu cầu của thân. Thí dụ: đang thiền toạ khởi niệm muốn uống ly nước chanh. Đó là ý muốn từ tâm chứ không hẳn là nhu cầu cấp thiết của thân. Quán tâm sắc bén giúp hành giả thấy được sợi giây ràng buộc giữa danh sắc là một hỗn hợp nhiều nhân nhiều duyên chứ không là một bản ngã hằng hữu.

174. Quán chiếu về chân tâm (bodhicitta) có nằm trong tâm quán niệm xứ?

Từ vựng bodhicitta phổ biến trong Phật giáo Đại thừa và Phương Tây ngày nay thường được dịch là chơn tâm hay Phật tánh nếu nói theo tứ niệm xứ thì là khái niệm triết học hay tư tưởng hơn là một thực tại để quán sát. 
Hành giả quán tâm chỉ ghi nhận những trạng thái tâm sanh khởi: tham, sân, định …. chứ không lập tâm đi tìm một thực hữu hay lượng định “tôi là”, “tôi có” hoặc “đây mới thật là tôi”. 


II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Phải chăng trong lúc tu tập tứ niệm xứ hành giả chỉ ghi nhận những trạng thái tâm tốt, xấu nhưng không cố gắng để tâm phải như thế nầy đừng như thế kia? - TT Pháp Đăng

Thảo luận 2. Một người có tâm ganh tị và thường nhận biết trạng thái tâm ganh tị thì cuộc sống có gì thay đổi? - TT Pháp Tân


Thảo luận 3. Phải chăng đối với người tu tứ niệm xứ khi tâm an lạc, nhẹ nhàng chỉ là trạng thái được ghi nhận chứ không phải để bám víu? - TT Pháp Đăng

 Thảo luận 4. Sự phân tích về tâm theo A Tỳ Đàm có giúp hành giả thực hành tứ niệm xứ? - TT Pháp Tân

Thảo luận 5. Ở phương diện nào tâm của chúng sanh giống nhau và phương diện nào tâm của chúng sanh khác nhau? - TT Pháp Đăng

Thảo luận 6. Phải chăng quán tâm khó hơn quán thân?


Thảo luận 7. TT Giác Đẳng đúc kết phần thảo luận



 III Trắc Nghiệm

Wednesday, November 13, 2019

Bài học. Thứ Tư ngày 13 tháng 11, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng SưTT Pháp Đăng
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 13/11/2019 
10. Kinh Niệm Xứ (Satipatthàna sutta)(tiếp theo)

166. Câu “vị tỷ kheo sống quán thọ trên thọ (bhikkhu vedanāsu vedanānupassī viharati) được hiểu thế nào?

Thọ ở đây là cảm giác khi tâm tiếp xúc với cảnh. Nên phân biệt rõ đây thuần là cảm giác (như trong Anh ngữ là feeling) chứ không là cảm xúc (emotion) vui, buồn từ thái độ xử lý cảnh (hay phản ứng của tâm). Cảm giác thuộc thọ uẩn trong khi phản ứng đối với cảnh thuộc hành uẩn.

167. Quán sát thọ trên các thọ được dạy thế nào?

Tỷ-kheo khi cảm giác lạc thọ, biết rõ: " cảm giác lạc thọ"; 
khi cảm giác khổ thọ, biết rõ: " cảm giác khổ thọ"; 
khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, biết rõ: "cảm giác bất khổ bất lạc thọ". 
Hay khi cảm giác lạc thọ thuộc vật chất, biết rõ: "cảm giác lạc thọ thuộc vật chất"; 
hay khi cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất, biết rõ: "cảm giác lạc thọ không thuộc vật chất". 
Hay khi cảm giác khổ thọ thuộc vật chất, biết rõ: "cảm giác khổ thọ thuộc vật chất";
hay khi cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất, biết rõ: "cảm giác khổ thọ không thuộc vật chất". 
Hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất, biết rõ: "cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất"; 
hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất, biết rõ: " cảm giác bất khổ bất lạc thọ không thuộc vật chất".

Cảm giác lạc thọ chỉ cho cảm giác dễ chịu, vừa ý.
Cảm giác khổ thọ chỉ cho cảm giác khó chịu, không thoải mái.
Cảm giác bất khổ bất lạc chỉ cho cảm giác trung tính không khả ý cũng không khó chịu.

168. Cảm thọ thuộc vật chất hay không thuộc vật chất nghĩa là gì?

Theo sớ giải và theo bài kinh số 137 của Trung Bộ, Kinh Phân Biệt Sáu Xứ, thì cảm thọ thuộc vật chất (sàmisà) chỉ cho cảm giác thế tục (gehasita) thuộc cái tầm thường, trong lúc cảm giác không thuộc vật chất (nirāmisā) chỉ cho cảm giác từ sự tu tập hay nếp sống nghiêng về tinh thần (nekkhammasita). (sāmisaṁ vā sukhantiādīsu sāmisā sukhā nāma pañcakāmaguṇāmisanissitā cha gehasitasomanassavedanā. nirāmisā sukhā nāma cha nekkhammasitasomanassavedanā. sāmisā dukkhā nāma cha gehasitadomanassavedanā. nirāmisā dukkhā nāma cha nekkhammasitadomanassavedanā. sāmisā adukkhamasukhā nāma cha gehasitaupekkhā vedanā. nirāmisā adukkhamasukhā nāma cha nekkhammasitaupekkhā vedanā. tāsaṁ vibhāgo uparipaṇṇāsake pāḷiyaṁ āgatoyeva). Nói cách khác trong lúc tu tập có những cảm giác sanh khởi từ sự tự nhiên, như cảm giác khi ngồi trên một toạ cụ êm ái, mà cũng có những cảm giác đến từ nỗ lực tu tập như sự đau nhức do cố gắng thiền toạ. 
Những khổ lạc do thói quen như tự nhiên cảm giác khi nghe một âm thanh ngọt ngào là cảm giác thuộc bản năng, thuộc thói quen, thuộc thế tục thường tình (gehasita) . Trái lại những cảm giác khó chịu, dễ chịu hoặc trung tính vốn là “phó sản” của sự tu tập cần được ghi nhận là thuộc đời sống tinh thần hay do tu tập (nekkhammasita). 
Cũng nên lưu ý cảm giác không khổ không lạc thường khó nhận diện nếu chánh niệm không sắc bén vì không nỗi bậc; cảm giác nầy đôi khi cũng bị hiểu lầm là không có gì quan trọng thật ra khi quen thuộc thuần thục với đề mục tu tập thì hành giả cũng an lập trong cảm giác bình thản.

169. Quán sát thọ trên thọ được áp dụng thế nào?

Cảm giác vốn vô chừng. Có khi rõ rệt có lúc mờ nhạt. Có khi kéo dài có khi nhanh chóng tan biến. Có khi bất chợt có khi do nguyên nhân rõ rệt. Hành giả cần biết cách quán sát cảm thọ thế nào mà chánh niệm không bị “điệu hổ ly sơn”, nói cách khác là đi quá xa hoặc quá lâu. Ghi nhận cảm thọ sanh khởi ngay sau đó trở về với đề mục thường quán như bước chân hay hơi thở. 
Không trang bị khả năng quán sát cảm thọ sẽ khiến hành giả lúng túng khi những cảm thọ chi phối bất ngờ.
Khả năng phân biệt cảm thọ thường tình (bản dịch: thuộc vật chất) hay cảm thọ do tu tập (bản dịch: không thuộc vật chất) giúp hành giả tăng trưởng chánh tinh tấn. Dù thế nào thì đối với tất cả cảm thọ chỉ ghi nhận chứ không chống đối hay bám víu.


II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Cảm giác bất khổ bất lạc có đồng nghĩa với không cảm giác? - TT Tuệ Siêu 


Thảo luận 2. Tại sao khổ thọ và lạc thọ không nhất thiết liên hệ tới phiền não. Nói cách khác là tại sao các bậc thánh đoạn tận phiền não vẫn có khổ thọ và lạc thọ? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 3. Kinh điển Phật giáo Bắc Truyền có nói đến hình ảnh tôn giả Mục Kiền Liên đau khổ khi thấy mẹ chịu khổ trong địa ngục. Theo Tam Tạng Pali thì một vị A la hán thinh văn thương xót chúng sanh (bằng tâm bi mẫn) hay thương kính Đức Phật có bằng cảm thọ ưu bi chăng? TT Tuệ Siêu 

Thảo luận 4. Một người đang trãi qua một cảm giác khổ hay lạc nếu quán sát với chánh niệm thì cảm thọ đó có tan biến? - TT Pháp Đăng 

Thảo luận 5. TT Giác Đẳng đúc kết phần thảo luận

Thảo luận 5. Tại sao các vị thiền sư thường dạy nếu một hành giả không thiện xảo trong chánh niệm đối với cảm thọ thì hậu quả là ‘bị chìm trong các cảm thọ và tâm trí trở nên muội lược”?

Thảo luận 6. Có thể nào một hành giả tu tứ niệm xứ chỉ tập trung vào thọ quán niệm xứ mà không chánh niệm hơi thở hay những đề mục khác?

Thảo luận 7. Làm thế nào để ghi nhận cảm giác bất khổ bất lạc?


Thảo luận 8. TT Giác Đẳng đúc kết phần thảo luận



 III Trắc Nghiệm

Tuesday, November 12, 2019

Bài học. Thứ Ba ngày 12 tháng 11, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng SưTT Giác Đẳng
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 12/11/2019 
10. Kinh Niệm Xứ (Satipatthàna sutta)(tiếp theo)

161. Quán sát tử thi được dạy thế nào?

Tỷ-kheo thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy".


Tỷ-kheo thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy".

163. Quán sát hài cốt được dạy thế nào?

Này các Tỷ-kheo, lại nữa, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại... với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại... với các bộ xương không còn dính thịt, dính máu, còn được các đường gân cột lại, chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy".

Lại nữa này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc... chỉ còn một đống xương lâu hơn ba năm... chỉ còn là xương thối trở thành bột. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy".


164. Câu tuỳ quán "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy (ayampi kho kāyo evaṃdhammo evaṃbhāvī evaṃanatīto’ti)” nên được hiểu thế nào?

Hành giả nhìn vào tử thi hay hài cốt là những thực tại chứ không do  tưởng tượng hay do người khác nói lại. Từ những thực tướng ấy hành giả nhìn lại thân xác của mình cũng đồng thể tánh không thể khác hơn cũng không có cách nào để tránh khỏi trạng thái ấy. Ở đây không chỉ mang tính thuyết phục mà còn lãnh hội và chấp nhận sự trạng đương nhiên của đời sống. 

165. Quán sát tử thi và hài cốt theo thiền chỉ (samatha) khác biệt thế nào so với thiền quán (vipassana) hay tứ niệm xứ?

Thiền chỉ (samatha) cũng có pháp niệm tử thi nhưng dựa trên ấn tượng mạnh mẽ với cảm xúc và duy trì cảm xúc bằng định tâm. Thiền quán (vipassana) thì thuần là sự quán sát thấy được “nhất thể’ giữa ngoại thân (tử thi hoặc hài cốt) và nội thân (đang trong sống với thức tánh) vốn đồng thể tánh vô thường biến hoại. 


II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

TT Giác Đẳng đúc kết phần trắc nghiệm



 III Trắc Nghiệm

Thảo luận 1. Quán sát tử thi và hài cốt trong tứ niệm xứ bao gồm điều nào sau đây?
A. Đó là sự mục kích tận mắt (không qua suy diễn của sách vở) / 
B. Sự việc nằm trong khung thời gian hiện tại (vừa xẩy ra hay đang xẩy ra /
 C. Hành giả chỉ nhận định đơn giản “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy” chứ không suy nghĩ xa hơn hay nhiều hơn. / 
D. Cả ba điều trên.

TT Pháp Tân cho đáp án trắc nghiệm 1 :D.

Trắc nghiệm 2. Làm thế nào để nuôi dưỡng chánh niệm liên tục đối với đề mục tử thi hay hài cốt? 
A. Luôn luôn ngồi bên tử thi / 
B. Cố nhớ liên tục về tử thi / 
C. Khi cảnh tượng tử thi hay hài cốt hiện khởi thì tâm niệm “Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy” sau đó trở về với hơi thở / 

D. Cái gì khiến tâm xúc động hay giao động thì đừng nghĩ tới thì chánh niệm sẽ không bị gián đoạn.

TT Pháp Tân cho đáp án trắc nghiệm 2 : C


Trắc nghiệm 3. Niệm tử thi và hài cốt có thể mang lợi ích nào sau đây cho hành giả? 
A. Giảm thiểu tham luyến xác thân /
 B. Thấy rõ thực tướng vô thường sanh diệt / 
C. Ít sợ hãi và nhiều tự tin khi tu tập nơi thanh vắng độc cư / 
D. Cả ba câu trên đều đúng

TT Pháp Đăng cho đáp án trắc nghiệm 3 :D.

Trắc nghiệm 4. Hành giả tu tứ niệm xứ có thể nhận ra tướng sanh diệt của thân qua điều nào sau đây? 
A. Sự bắt đầu và chấm dứt của hơi thở ra hoặc vào / 
B. Sự vận hành không ngừng nghĩ của điạ đại, thuỷ đại, hoả đại, phong đại / 
C. Sự khẳng định thân xác của mình rồi sẽ mục rã như tử thi mục kích /
 D. Cả ba câu A, B, C

TT Pháp Tân cho đáp án trắc nghiệm 4: D

Monday, November 11, 2019

Bài học. Thứ Hai ngày 11 tháng 11, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng SưTT Giác Đẳng
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 11/11/2019 
10. Kinh Niệm Xứ (Satipatthàna sutta)(tiếp theo)

156. Quán sát cơ phận của thân được dạy thế nào?

“Tỷ-kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: "Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu". Này các Tỷ-kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quán sát: "Ðây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi". Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: "Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu".

Những phần của thân thể được dạy ở đây vốn nằm trong môn học thường thức của Ấn Độ từ ngàn xưa. Bản kinh nguyên thuỷ nêu 31 như trên về sau các bản sớ giải thêm phần với phần 32 là “óc”. (Trước kia óc được tính chung với tuỷ)

157. Quán sát cơ phận của thân được dạy thế nào?

Người tu tập quán sát cơ phận thân thể rất cần một vị thầy có kinh nghiệm hướng dẫn. 
Những cơ phận được nhận diện theo các đặ điểm sau: (1) theo màu sắc, (2) đặc tính, (3)  hình dạng, (4) phương hướng, (5) vị trí, (6) giới hạn. (Những điều nầy quá dài đề nêu ở đây. Thanh Tịnh Đạo là một tài liệu tốt cho phần nầy)
Bước đầu của pháp quán sát nầy thường bắt đầu từ quán ngoại thân có như quán sát tử thi...giống trường hợp người học sinh vật bằng những bộ xương cách trí.

158. Quán sát thể trược theo thiền chỉ (samatha) khác biệt thế nào so với thiền quán (vipassana) hay tứ niệm xứ?

Đặc điểm của thiền chỉ khi dạy về những pháp tuỳ quán như niệm thí, niệm chư thiên, niệm chết, niệm bất tịnh... là tạo nên một thứ cảm xúc mạnh, dĩ nhiên là cảm xúc lành mạnh, và duy trì cảm xúc đó thành định lực.
Trong pháp hành  tứ niệm xứ hành giả không có chủ tâm tạo nên cảm xúc mà chỉ đơn thuần quán sát. Trên căn bản nầy thì hành giả bén nhạy trong sự ghi nhận (cái gì đang hiện khởi và hiện hữu) và nhận rõ (với kiến thức đã trang bị sẳn). Trong pháp tứ niệm xứ không có suy diễn dù y cứ trên kiến văn về Phật Pháp.

159. Quán sát tứ đại được dạy thế nào?

“ Tỷ-kheo quán sát thân này về các vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: "Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại". Này các Tỷ-kheo, như một người đồ tể thiện xảo, hay đệ tử của một người đổ tể giết một con bò, ngồi cắt chia từng thân phần tại ngã tư đường. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này về vị trí các giới và về sự sắp đặt các giới: "Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại".
Bốn đại là khái niệm căn bản về vật chất trong Phật học. Bốn đại được định nghĩa và hiểu với nhiều cách khác nhau tuỳ theo ngữ cảnh.
Bốn đại ở đây nên được hiểu là:
Địa đại gồm tất cả vật thể cứng mềm như tóc, lông, móng, răng, da...
Thuỷ đại gồm tất cả vật thuộc thể loãng như mật, đàm, mủ, máu..
Hoả đại gồm tất cả nhiệt lượng nóng lạnh như hơi ấm châu thân, hơi ấm tiêu hoá..
Phong đại gồm tất hiện tượng khí luân lưu như hơi thở..

160. Những hiện tượng vật chất của thế giới chung quanh như sông, núi.. có nằm trong cảnh giới của quán sát và tứ đại?

Mặc dù tứ đại là căn bản chung của vật chất nhưng ở đây đơn thuần nằm trong phạm vi “thân của mình và thân của chúng sanh khác” chứ không đi xa hơn. Nói cách khác thân quán niệm xứ là quán sát về sắc uẩn, một trong năm thủ uẩn đối tượng của ngã chấp, chứ không chú trọng nghiên cứu về khoa học tự nhiên.


II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành




 III Trắc Nghiệm

Sunday, November 10, 2019

Bài học. Chủ Nhật ngày 10 tháng 11, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng SưKhông có giảng sư - đạo tràng để băng giảng cũ

Saturday, November 9, 2019

Bài học. Thứ Bảy ngày 9 tháng 11, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng SưKhông có giảng sư - đạo tràng để băng giảng cũ

Friday, November 8, 2019

Bài học. Thứ Sáu ngày 8 thaág 11, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng SưKhông có giảng sư - đạo tràng để băng giảng cũ