Tuesday, November 19, 2019

Bài học. Thứ Ba ngày 19 tháng 11, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng Sư: TT Tuệ Quyền & TT Giác Đẳng
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 19/11/2019 
10. Kinh Niệm Xứ (Satipatthàna sutta)(tiếp theo)

195. Quán sát thất giác chi được dạy thế nào?

Ở đây Tỷ-kheo nội tâm có niệm giác chi, biết rõ: "Nội tâm  có niệm giác chi"; hay nội tâm không có niệm giác chi, biết rõ: "Nội tâm  không có ý niệm giác chi". Và với niệm giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy biết rõ như vậy, và với niệm giác chi đã sanh, nay được tu tập viên thành, vị ấy biết rõ như vậy.

Hay Tỷ-kheo nội tâm có trạch pháp giác chi... (như trên)... hay nội tâm có tinh tấn giác chi... (như trên)... hay nội tâm có hỷ giác chi... (như trên)... hay nội tâm có khinh an giác chi... (như trên)... hay nội tâm có định giác chi... (như trên)... hay nội tâm có xả giác chi, biết rõ: "Nội tâm có xả giác chi"; hay nội tâm không có xả giác chi, biết rõ: "Nội tâm không có xả giác chi". Và với xả giác chi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy biết rõ như vậy, và với xả giác chi đã sanh nay được tu tập viên thành, vị ấy biết rõ như vậy. 
Niệm giác chi là sự tỉnh táo bén nhạy ghi nhận các hiện tượng sanh diệt.
Trạch pháp giác chi là sự tinh tế phân biệt sanh diệt, danh sắc, thiện hay bất thiện
Cần giác chi là nghị lực hay sức mạnh điều hướng nội lực.
Hỷ giác chi là sự hân hoan, thoải mái trong sự tu tập.
Khinh an giác chi là sự nhẹ nhàng, tự tại, thuần thục.
Định giác chi là khả năng an trụ bền bĩ trong sự tập trung.
Xả giác chi là khả năng quân bình không bị thiên lệch tạo thành cực đoan.

196. Những giác chi như niệm, trạch pháp ... ở đây có giống với chánh niệm, trạch pháp... thông thường?

Các thiện pháp gọi là giác chi phải ở mức độ đủ lớn mạnh để liên kết và hỗ trợ cho những giác chi khác chứ không còn trong giai đoạn tu tập riêng lẻ. Sớ giải có thí dụ như những thành viên trong một nhóm người được phân công: mỗi thành viên phải đủ khả năng làm tốt phần hành của mình và hỗ trợ cho những thành viên khác trong nhóm. Khi bảy giác chi được đầy đủ thì con mắt tuệ hiện khởi.

197. Quán sát thất giác chi áp dụng thế nào?

Như một vị tướng ra quân phải nắm vững quân cơ, hành giả biết rõ từng giác chi có hay không có, chưa sanh hay đã sanh, còn phôi thai hay đã tinh luyện. Tôn giả Sàriputta dạy rằng người thanh tịnh biết bản thân thanh tịnh là bậc tôn quý vì chính cái biết đó giúp duy trì, pháp triển và làm viên mãn những yếu tố sanh khởi tuệ giác.
198. Pháp quán niệm xứ qua thất giác chi có phải là tu tập thất giác chi?

Ở giai đoạn bảy giác chi được quán sát như pháp quán niệm xứ thì bảy giác chi tương đối đã thuần thục với mức độ rất gần để gọi là tinh luyện. Những giác chi nầy không còn trong giai đoạn tu tập sơ khởi riêng lẻ mà đã đủ lớn mạnh để liên kết hỗ tương nhau.

199. Chánh niệm đối với niệm giác chi được hiểu thế nào?

Khi chánh niệm vừa là năng tri cũng vừa là sở tri là chánh niệm biết rõ sự bén nhạy, liên tục và tinh tế của niệm. Thí dụ tự biết những cảm thọ khổ, lạc, bất khổ bất lạc hiện khởi với cả hai điểm sanh và diệt đó là bén nhạy; dù bất cứ hiện tượng nào được ghi nhận cũng vẫn không rời chánh niệm đó là liên tục, biết rõ danh và sắc, nội xứ và ngoại xứ, ý định và hành động ... là sự tinh tế. Tự biết khả năng quán sát bén nhạy là chánh niệm đối với niệm giác chi.


II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Tại sao trong ba mươi bảy pháp trợ bồ đề , thì thất giác chi tạo nên tác động đặc biệt với các bậc hoàn toàn giải thoát ? - TT Tuệ Siêu 


Thảo luận 2. Phải chăng chử “chi phan- anga” nói lên ý nghĩa liên hệ mật thiết với các pháp đồng sanh ? - TT Tuệ Siêu

 Thảo luận 3. Nhiều người quan niệm rằng tu thì phải khổ thì mới có thành tựu chứng đắc , vậy tại sao những pháp như hỷ , lạc , khinh an thường được nhắc tới ? - TT Pháp Tân 

Thảo luận 4. Tự biết những sở đắc của bạn thân có gọi là kiêu mạn? - TT Tuệ  Quyền 


Thảo luận 5. Sư đắc chứng giải thoát nào trong Phật Pháp không qua cảnh của giác ngộ ? - TT Pháp Đăng 



 III Trắc Nghiệm

Monday, November 18, 2019

Bài học. Thứ Hai ngày 18 tháng 11, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng Sư: TT Tuệ Siêu
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 18/11/2019 
10. Kinh Niệm Xứ (Satipatthàna sutta)(tiếp theo)

190.  Quán sát sáu nội xứ và sáu ngoại xứ được dạy thế nào?

Ở đây Tỷ-kheo  biết rõ con mắt và  biết rõ các sắc, do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy  biết rõ như vậy; và với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy  biết rõ như vậy; và với kiết sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy  biết rõ như vậy; và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy  biết rõ như vậy.

Tỷ-kheo  biết rõ tai và  biết rõ các tiếng...  biết rõ mũi và  biết rõ các hương...  biết rõ lưỡi... và  biết rõ các vị...  biết rõ thân và  biết rõ các xúc,  biết rõ ý và  biết rõ các pháp; do duyên hai pháp này, kiết sử sanh khởi, vị ấy  biết rõ như vậy; và với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy  biết rõ như vậy; và với kiết sử đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy  biết rõ như vậy; và với kiết sử đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy  biết rõ như vậy. 

191. Thuật ngữ xứ - āyatana nghĩa là gì?

Xứ có nghĩa là nơi, chỗ ở đây chỉ cho cơ sở tâm thức sanh khởi, từ đó, phiền não kiết sử sanh khởi. Sáu nội xứ chỉ cho mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sáu nội xứ chỉ cho sắc, thinh, khí, vị, xúc, pháp. Tâm thức chỉ cho các giác quan: thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác và ý thức.
192. Tại sao hành giả cần phân biệt nội xứ và ngoại xứ

Nội xứ thuộc về chủ quan, nội tại có một mãnh lực chi phối khác với cảnh khách quan. Thí dụ hành giả đang tu tập bất chợt “thèm ăn cái gì đó” đó là kiết sử phiền não liên hệ tới lưỡi (thiệt căn) chứ không là cảnh vị (chưa biết rõ thật sự muốn ăn cái gì). Thông thường những nhu cầu ham muốn của các căn dựa trên thói quen như tới giờ giấc nào đó muốn hưởng cảnh dựa trên một giác quan thí dụ buổi sáng thích nghe nhạc mà không cần phải là loại nhạc gì.
Sáu cảnh bên ngoài thường khi xuất hiện bất chợt và hiện khởi với rất ít khả năng tự chủ của hành giả.
Hai loại xứ nội xứ và ngoại xứ mang tác động phiền não kiết sử khác nhau và hành giả cần chánh niệm cũng như ứng xử bằng phương cách khác nhau thí dụ để giảm thiểu chi phối của ngoại cảnh có thể thay đổi bằng sự thiên chuyển chỗ ở nhưng nhu cầu các căn thì đôi khi cần một chế ngự khác.

193. Quán sát sáu nội và ngoại xứ được áp dụng thế nào?

Khi quán sát hơi thở hay quán sát các tư thế đi, đứng, nằm, ngồi có thể ghi nhận sự hiện khởi của cảnh.
Nếu có một thứ căn hay cảnh dễ sanh phiền não thì hành giả cần quan tâm nhiều hơn để nuôi dưỡng chánh niệm thí dụ người mê thích ăn uống chẳng hạn cần phòng hộ thiệt căn khi thọ thực.
Khi có những tham luyến (một thứ phiền não kiết sử) hành giả với trí tuệ phân tích kiết sử đó thuộc về căn nào, cảnh nào, thường sanh khởi trong oai nghi nào, thời khắc nào. “Biết người biết ta” là cách tốt để đối trị phiền não.

194. Quán sát sáu nội và ngoại xứ có những lợi ích thiết thực nào đối với hành giả?

Hành giả thường quán sát sáu nội xứ và ngoại xứ trí tuệ được sắc bén, chánh niệm được vững chãi và dễ dàng thấy được thực tướng của vô ngã vì nhận ra các pháp do nhiều nhân nhiều duyên mà sanh khởi hay hoại diệt. Những khía cạnh chủ quan, khách quan, nội phần, ngoại phần giúp hành giả có cái nhìn chân xác hơn về cuộc sống


II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Phải chăng sự sống hay sự hiện hữu theo Phật Pháp nằm trọn trong ba thành tố : căn, cảnh và thức ? Ngoài căn , cảnh , thức có “cái gì đó” gọi là chân ngã ? - TT Tuệ Siêu 


Thảo luận 2. Tại sao ngũ song thức trong A Tỳ Đàm dường như muội lược không đáng kể lắm khi giải về tâm , trong khi những nơi khác thì ngũ song thức dường như “lớn chuyện” ? -TT Tuệ Siêu

Thảo luận 3. Khi chúng ta nghiện ngập hay nghiền thứ gì , như thói quen ăn cay chẳng hạn thì kiết sử đó thiên về căn hay cảnh ?   TT Pháp Đăng 

Thảo luận 4: 

  Thảo luận 5. Phải chăng để đối diện với phiền não đôi khi chúng ta cũng nên quan sát cảnh? - TT Pháp Đăng

Thảo luận 6. TT Giác Đẳng đúc kết phần thảo luận



 III Trắc Nghiệm

Sunday, November 17, 2019

Bài học. Chủ Nhật ngày 17 tháng 11, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng Sư: TT Giác Đẳng
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 17/11/2019 
10. Kinh Niệm Xứ (Satipatthàna sutta)(tiếp theo)

185. Quán sát năm thủ uẩn được dạy thế nào?

Tỷ-kheo quán sát: "Ðây là sắc, đây là sắc tập, đây là sắc diệt. Ðây là thọ, đây là thọ tập, đây là thọ diệt. Ðây là tưởng, đây là tưởng tập; đây là tưởng diệt. Ðây là hành, đây là hành tập, đây là hành diệt. Ðây là thức, đây là thức tập, đây là thức diệt". 

186. Thuật ngữ ngũ thủ uẩn (pañc’upādānakkhandha) có giống với thuật ngữ ngũ uẩn (pañcakhandha)? 

Ngũ uẩn là năm nhóm cấu thành sự hiện hữu của chúng sanh: sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Năm thủ uẩn cũng là năm uẩn với hai ý nghĩa xa hơn:
Là pháp tạo thành do chấp thủ (upādāna)
Là đối tượng của chấp thủ
Các căn mắt, tai, mũi, lưỡi… được tạo thành do chấp thủ sắc, thinh, hương, vị… là thí dụ của pháp tạo thành do thủ.
Năm uẩn là đối tượng của chấp thủ: đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta” là thí dụ cho ý nghĩa “đối tượng của chấp thủ”

187. Năm thủ uẩn gồm những gì?

Năm thủ uẩn tức ngũ uẩn đi với ý nghĩa “tạo thành do chấp thủ và đối tượng của chấp thủ”:
Sắc uẩn là thành phần vật chất của chúng sanh tạo nên bởi tứ đại.
Thọ uẩn là cảm giác khổ, lạc, bất khổ bất lạc. Thọ uẩn thường tạo nên “phản ứng bản năng” về hạnh phúc hay đau khổ, may mắn hay xui xẻo…
Tưởng uẩn là thành phần kinh nghiệm bao gồm hai khía cạnh nhận thức và hồi ức. Sự hấp thụ về văn hoá, giáo dục, vốn liếng sống của mỗi cá nhân đều nằm trong tưởng uẩn.
Hành uẩn là thành phần bao gồm cả ba phương diện: phản ứng, xử lý và tạo tác của tâm.
Thức uẩn là thành phần nhận thức của giác quan như thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác ….
Sắc uẩn thuộc về thân.
Thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn thuộc về tâm nên còn được gọi là bốn danh uẩn.

Sự hiện hữu của chúng sanh là sự tồn tại của các uẩn thường đi với chấp thủ “đây là của ta, là ta, là tự ngã của ta”

188. Quán sát năm uẩn được áp dụng thế nào?

Hành giả cần được giải thích rõ thế nào là năm uẩn và quán sát theo cách nhìn “đại loại” hơn là “vĩ mô” (trên phưong diện vĩ mô thì thọ, tưởng, hành, thức luôn đi chung một cách bất khả ly)

Nhìn hiện tướng theo tính cách tách biệt: đang hành thiền nhớ nghĩ đển ai đó lả tưởng uẩn, nhận thức một mùi hương thoang thoảng thuộc thức uẩn, thái độ bực bội khi nghe âm thanh nào đó thuộc hành uẩn…

Ghi nhận sự sanh diệt của từng sự việc: khi nảy chưa có bây giờ có là sanh. Đang có rồi biến mất là diệt. Sanh diệt là tướng được nắm bắt bởi chánh niệm. Khi chánh niệm thuần thục thì thấy tất cả là dòng sanh diệt liên tục.
Từ sự chánh niệm riêng lẻ từng hiện tượng dần dà hành giả sẽ giảm thiểu được ba căn bệnh trầm kha: “quơ đủa cả nắm”: cảm giác bất lạc sanh khởi thì cả cuộc sống buồn, cả thế giới buồn; “dán nhãn cá nhân” đụng chạm tới cảm giác của tôi là xúc phạm con người tôi; “khéo dư nước mắt khóc người đời xưa”: khi cuộc sống là dòng sanh diệt liên tục thì sự bám víu vào cái đã qua thật sự vô nghĩa.

189. Quán sát năm uẩn có khiến cho hành giả rối trí và xao lãng chánh niệm?

Cũng như nhiều pháp quán khác trong tứ niệm xứ hành giả cần vốn liếng hiểu biết rõ về năm uẩn. Thời gian sơ khởi thường có khuynh hướng tìm kiếm nhưng theo thời gian sẽ nhường lại cho sự nhận dạng vì năm uẩn luôn hiện hữu. Không nên tự tạo áp lực hay bối rối trước các hiện tướng. Kiên trì quán sát lâu ngày thì sự phân biệt năm uẩn sẽ rõ ràng; sự sanh diệt sẽ được ghi nhận bén nhạy và giảm thiểu tánh cách vui buồn mà nhường chỗ cho thái độ khách quan bình thản.


II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

 Thảo luận 1. Có thể nào có được năm uẩn hoàn hảo? hay năm uẩn luôn bất toàn? - TT Tuệ Siêu


Thảo luận 2. Tại sao đối với hiện tượng sanh diệt chúng ta thường “không cam lòng” để cho qua những gì đã đi qua? - TT Pháp Tân

 Thảo luận 3. Khi nhìn tất cả hiện tượng chúng ta thường suy tư nhiều vậy làm sao để chỉ quán sát mà không suy luận? - TT Pháp Đăng

Thảo luận 4. “Sự chia chẻ” hiện hữu của chúng sanh là kết cấu của các uẩn có lợi ích gì cho người tu tập? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 5. Mỗi chúng sanh có bao nhiêu quyền lực với năm uẩn “của mình”? - TT Pháp Tân 



 III Trắc Nghiệm

Saturday, November 16, 2019

Bài học. Thứ Bảy ngày 16 tháng 11, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng Sư: TT Tuệ Siêu
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 16/11/2019 
10. Kinh Niệm Xứ (Satipatthàna sutta)(tiếp theo)

180. Quán sát năm pháp cái được dạy thế nào?

Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo nội tâm có ái dục, biết rõ: "Nội tâm có ái dục"; hay nội tâm không có ái dục, biết rõ: "Nội tâm không có ái dục". Và với ái dục chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy biết rõ như vậy; và với ái dục đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy biết rõ như vậy; và với ái dục đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy biết rõ như vậy.

Hay nội tâm có sân hận, biết rõ: "Nội tâm có sân hận"; hay nội tâm không có sân hận, biết rõ: "Nội tâm không có sân hận". Và với sân hận chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy biết rõ như vậy; và với sân hận đã sanh, nay được đoạn diệt, vị ấy biết rõ như vậy; và với sân hận đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy biết rõ như vậy. Hay nội tâm có hôn trầm thụy miên, biết rõ: "Nội tâm có hôn trầm thụy miên"; hay nội tâm không có hôn trầm thụy miên, biết rõ: "Nội tâm không có hôn trầm thụy miên". Và với hôn trầm thụy miên chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy biết rõ như vậy; và với hôn trầm thụy miên đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy biết rõ như vậy; và với hôn trầm thụy miên đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy biết rõ như vậy. Hay nội tâm có trạo hối, biết rõ: "Nội tâm có trạo hối"; hay nội tâm không có trạo hối, biết rõ: "Nội tâm không có trạo hối". Và với trạo hối chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy biết rõ như vậy; và với trạo hối đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy biết rõ như vậy; và với trạo hối đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy biết rõ như vậy. Hay nội tâm có nghi, biết rõ: "Nội tâm có nghi"; hay nội tâm không có nghi, biết rõ: "Nội tâm không có nghi". Và với nghi chưa sanh nay sanh khởi, vị ấy biết rõ như vậy; và với nghi đã sanh nay được đoạn diệt, vị ấy biết rõ như vậy; và với nghi đã được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa, vị ấy biết rõ như vậy.

181. Pháp cái nghĩa là gì?
Pháp cái - nīvaraṇa có nghĩa là những pháp trói buộc, ngăn ngại sự tiến bộ. Thường được dịch là triền cái cũng có nghĩa là sự cột trói khiến dậm chân một chỗ không tiến tới được. Năm phiền não nầy đặc biệt đối lập với năm thiền chi là trở ngại cho bất cứ hành giả tu tập nào. 

Tham dục – kāmacchanda – là sự ham muốn mạnh mẽ đối với các cảnh dục. Sự nghiện ngập cũng nằm trong pháp cái nầy. Tâm bị tham dục chiếm ngự được ví như nước pha màu không còn trong trẻo nữa.
Sân độc – byāpāda – là thái độ căm ghét đối với cái gì đó. Tâm bị sân độc chiếm ngự được ví như nước bị sôi. Sự sôi dục khiến không thấy được xuyên thấu.
Hôn thuỵ -  thīnamiddha – nói đủ là hôn trầm và thuỵ miên nghĩa là trạng thái dã dượi buồn ngũ. Sự lười biếng và mê ngũ cũng có một phần chi phối bởi pháp cái nầy. Tâm nặng hôn trầm thuỵ miên được ví dụ như nước có nhiều rong rêu.
Trạo hối – uddhaccakukkucca – là trạng thái giao động và hối tiếc. Sự lo lắng bồn chồn cũng thuộc pháp cái nầy. Tâm bị trạo hối được ví như nước bị gió lay động mạnh tạo thành nhiều gợn sóng.
Nghi họăc – vicikiccha – là trạng thái lưỡng lự, phân vân, thiếu quyết đoán đối với Tam bảo, đối với bản thân, đối với nhân quả và đối với sự tu tập. Thắc mắc không phải là nghi hoặc. Nếu không hiểu mà tìm hiểu thì đó là thái độ học hỏi. Nghi hoặc là sự ngờ vực mà không chịu tìm hiểu. Tâm bị nghi hoặc chi phối được ví dụ như nước có pha bùn.

182. Quán sát năm pháp cái được áp dụng thế nào?

Hành giả sau khi học hiểu rõ về năm pháp cái thì xem đó là những đối tượng để quán sát chứ không phải để sợ hãi. Năm pháp cái nầy được nhận diện qua những sinh hoạt hằng ngày như ăn, ngũ, tụng kinh … và cần thấy rõ SỰ NGĂN NGẠI của những pháp cái nầy.
Tham dục ngăn ngại định tâm (vì vọng móng)
Sân hận ngăn ngại hỷ (sự hân hoan, thoải mái) trong sự tu tập
Hôn thuỵ ngăn ngại tầm (sự hướng tâm vào đề mục tu tập) khiến đề mục không rõ ràng, chánh niệm mờ nhạt.
Trạo hối ngăn ngại lạc (lạc trú trong đề mục định tâm) do tâm ý giao động.
Hoài nghi ngăn ngại tứ (sự gắn bó với đề mục định)

183. Nếu pháp cái chi phối mạnh mẽ thì hành giả nên làm gì?

Nếu hành giả gì những pháp cái chi phối mạnh nên tìm sự hỗ trợ thêm từ bên ngoài và nội tại.
Trợ duyên từ bên ngoài là thầy dạy có kinh nghiệm hay thiện hữu.
Trợ duyên từ bên trong là “tu bổ túc” như dành thì giờ tu tâm từ để giảm sân tâm, quán bất tịnh để giảm dục tham.
Hôn trầm và thuỵ miên thường đòi hỏi sự phấn đấu nhiều của đa số hành giả. Kinh nghiệm bản thân rất cần thiết để đối đầu với hôn thụy.
184. Tâm ở trạng thái nào gọi là tâm không bị uế nhiễm?
Tâm thanh tịnh, trong sáng là tâm đủ bén nhạy để làm năm điều:
Hướng tâm đến cảnh (đề mục định) dễ dàng theo ý muốn (thuật ngữ Phật học gọi là tầm )
Gắn bó với đề mục định một cách tự nhiên (thuật ngữ Phật học gọi là tứ )
Hân hoan với đề mục định (thuật ngữ Phật học gọi là hỷ )
Thoải mái với đề mục định (thuật ngữ Phật học gọi là lạc )
Trụ tâm bền bĩ với đề mục định (thuật ngữ Phật học gọi là định)


II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận1. Tại sao có những phiền não dường như "vô tội " mà lại gọi là pháp triền cái như hôn trầm, thụy mien hay hoài nghi chẳng hạn ? - TT Pháp Đăng

Thảo luận 2. Có người quan niệm rằng khi tu một pháp môn nào đó như niệm Phật chỉ cần tập trung vào đề mục niệm hơn là bận tâm với những pháp khác như năm triền cái. Quan niệm đó có vấn đề chỗ nào? ĐĐ Nguyên Thông



 III Trắc Nghiệm

Friday, November 15, 2019

Bài học. Thứ Sáu ngày 15 tháng 11, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng SưĐĐ Huy Niệm
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 15/11/2019 
10. Kinh Niệm Xứ (Satipatthàna sutta)(tiếp theo)

175. Quán pháp trên pháp (bhikkhu dhamme dhammānupassī viharati) được dạy thế nào?

Là chánh niệm quán sát đối với những đề pháp như sau:

Quán pháp trên các pháp đối với năm triền cái.

Quán pháp trên các pháp đối với năm thủ uẩn.

Quán pháp trên các pháp đối với sáu nội ngoại xứ.

Quán pháp trên các pháp đối với Bảy Giác chi.

Quán pháp trên các pháp đối với Bốn Thánh đế.

176. Chữ “pháp – dhamma” ở đây nghĩa là gì?

Thuật ngữ dhamma – pháp mang rất nhiều ý nghĩa trong Phật học. Một số dịch giả giải thích chữ pháp ở đây là những khái niệm trừu tượng của tâm ý (cảnh pháp). Bản sớ giải ghi rõ chữ pháp ở đây chỉ cho những chủ đề của pháp (lời Phật dạy) mang ba yếu tố:

a. Là những sự thật tự nhiên.

b. Là sự thật tự nhiên liên hệ tới hành trình giác ngộ giải thoát.

c. Là những sự thật có liên hệ tới sự tu tập được Đức Phật giảng dạy.

177. Quán pháp trên các pháp có phải là sự suy tư về pháp?

Quán pháp trên các pháp ở đây không phải là học hỏi từ nghe, đọc mà cũng không phải là suy luận. Một khi hành giả đã có được sự hiểu biết căn bản về các đề tài như năm triền cái, thất giác chi… từ sự học hỏi sau đó khi hành tứ niệm xứ sẽ trãi nghiệm những pháp nầy trên thực tế thân tâm. Nói cách khác tứ diệu đế có thể lãnh hội quan sự học hỏi hay suy luận nhưng cũng có thể trãi nghiệm trên thực tế bản thân.

178. Làm thế nào để giữ chánh niệm liên tục với những đề tài pháp vốn tác động sự suy nghĩ?

Hành giả tu pháp quán niệm xứ cần duy trì chánh niệm với khung thời gian rộng: toàn bộ sinh hoạt hằng ngày. Chánh niệm với sở hành qua thân, khẩu, ý; nhận thức được những đầu mối và hệ quả. Thí dụ tâm tham biết là tâm có tham đó thuộc về tâm quán niệm xứ. Nhưng nếu thấy được tâm tham ngăn ngại cho sự tập trung (vì vọng móng) thì đúng là tham triền cái (một trong ngũ cái). Thấy được ham muốn là pháp ngăn ngại và thấy khi trạng thái đó đang thực sự diễn ra đó là pháp quán niệm xứ. Đối với hành giả thì những đề tài và chi pháp không còn nằm trong sự suy tư hiểu biết mà là những thực tại ghi nhận được ngay ở trong cuộc sống.

179. Quán pháp trên pháp được áp dụng cụ thể thế nào?

Hành giả cần học hiểu rõ những đề tài pháp y cứ trên kinh điển và được sự giảng dạy tường tận của một vị thầy. Đôi khi những pháp thoại trong các trường thiền đáp ứng nhu cầu nầy. Sau khi hiểu rõ hành giả quán sát những pháp ấy qua những diễn biến của thân tâm. Thời gian đầu tu tập pháp quán niệm xứ cần môi trường thích hợp như một tu viện hay trung

tâm thiền định. Hành giả cần phân biệt rõ ba thứ trí: hiểu biết do học hỏi, hiểu biết do suy tư, hiểu biết do tu tập. Pháp quán niệm xứ là sự hiểu biết do tu tập: đọc những ý nghĩa của pháp qua cuộc sống thực tế chứ không đặt nặng suy luận.


II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Tại sao khi chúng ta quan sát với thực tại thì thường nhìn bằng định kiến, thành kiến hơn là pháp tánh ra sao nhận biết như vậy ? - TT Tuệ Siêu


Thảo luận 2. _ Có lời Phật dạy nào liên hệ tới giải thoát mà không y cứ trên sự thật ( chỉ vì phương tiện mà nói ). - ĐĐ Huy Niệm

 Thảo luận 3. Trí tuệ do tu tập có giá trị lớn trong Phật Pháp , còn trí tuệ do học hỏi hay suy luận có được xem là đáng quý ? - TT Tuệ Siêu

 Thảo luận 4. Có câu " thiên nhiên là một quyển sách mở rộng mà ở đó con người học được nhiều điều " thế nhưng tại sao quán pháp trên pháp lại hường sự quan sát vào những đề tài có khuôn khổ ? - TT Pháp Đăng 


 III Trắc Nghiệm