Sunday, January 5, 2020

Bài học. Chủ Nhật ngày 5 tháng 1, 2020

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng sư: TT Tuệ Siêu
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY  5/1/2020 
28. Ðại kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi
(Mahàhatthipadopama sutta)


387. Tại sao gọi là  Ðại kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi
(Mahàhatthipadopama sutta)?
Gọi là Đại kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi (Cùlahatthipadopama sutta) vì lấy từ một thí dụ làm tiền đề cho pháp thoại. Bài kinh nầy có Đại kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi vì tương đối dài hơn so với bài kinh trước đây cũng lấy dấu chân voi làm thí dụ nhưng ngắn hơn mang tên Tiểu Kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi.

388. Đại ý Ðại kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi
(Mahàhatthipadopama sutta) là gì?
Trong một pháp thoại thường xuyên cho tỳ kheo ở chùa Kỳ Viên, Savatthi, Tôn giả Sàriputta mở đầu với ví dụ như dấu chân voi lớn hơn những dấu chân khác của các con vật trong rừng thì giáo lý tứ diệu đế cũng bao trùm những giáo nghĩa khác trong Phật Pháp. Điểm đặc biệt của bài pháp nầy là Tôn giả Sàriputta thay vì giảng rộng ý nghĩa của Tứ Đế thì Ngài hướng chư Tăng vào sự tu tập cụ thể dựa trên quán niệm về năm thủ uẩn, bốn đại chủng, và hiện tượng duyên khởi.

389. Tại sao giáo lý tứ đế được ví dụ với dấu chân voi?
Tứ diệu đế - hay bốn sự thật vi diệu – là:
Sự thật về khổ đau hay nhu cầu cấp thiết cần giải quyết của đời sống.
Sự thật về nhân sanh khổ chính là khát ái hay sự khao khát không bao giờ thoả mãn.
Sự thật về diệt khổ chính là niết bàn tịch tịnh chấm dứt mọi khát ái.
Sự thật về con đường đưa đến diệt khổ là hành trình tu tập với thánh đạo tám chi phần.
Tất cả lời Phật dạy đều nằm trong hai trọng điểm là dạy về sự khổ và sự diệt khổ do vậy những gì được Đức Thế Tôn truyền dạy từ bài pháp đầu tiên cho đến giây phút trước giờ viên tịch đều nằm trong tứ đế.

390. Những gì Tôn giả Sàriputta đề cập đến mới nghe không phải là tứ diệu đế nhưng lại nằm trong tứ diệu đế?
Với sự dẫn nhập ngắn gọn, Tôn giả Sàriputta đi tổng quan giáo lý đến chi tiết về cách quán sát tứ đại:
-- Chư Hiền giả, ví như tất cả dấu chân của mọi loại động vật đều thâu nhiếp trong dấu chân voi, vì dấu chân này được xem là lớn nhất trong tất cả dấu chân về phương diện to lớn. Cũng vậy, chư Hiền giả, tất cả các Thiện pháp đều tập trung trong Bốn Thánh đế. Thế nào là trong Bốn Thánh đế? Trong Khổ Thánh đế, trong Khổ tập Thánh đế, trong Khổ diệt Thánh đế, trong Khổ diệt đạo Thánh đế.

Chư Hiền, thế nào là Khổ Thánh đế? Sanh là khổ, già là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, điều gì cầu không được là khổ, tóm lại Năm thủ uẩn là khổ.

Chư Hiền, thế nào là Năm thủ uẩn? Chính là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.

Chư Hiền, thế nào là sắc thủ uẩn? Bốn đại và sắc khởi lên từ bốn đại. Chư Hiền, thế nào là bốn đại? Chính là địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới. 


391. Bốn đại chủng có vị trí thế nào trong Phật học? Bốn đại chủng ở đây được quán chiếu thế nào?
Bốn đại chủng là bốn nguyên tố của vật chất theo Phật học (và cũng được phổ cập trong văn hoá Ấn). Tứ đại trong Tam Tạng được đề cập với nhiều phạm trù từ bản thể cho đến thường thức. Trong bài kinh nầy tứ đại được định nghĩa theo pháp hành cho những hành giả tu tập quán chiếu.
Địa giới được định nghĩa ở đây là: Cái gì thô phù, kiên cứng. Đối với nội thân thì những gì thuộc địa giới có thể kể là: óc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân.. Đối với ngoại thân có thể kể là: đất, đá, cây cỏ, núi non…
Thủy giới được định nghĩa ở đây là: Cái gì thuộc nước, thuộc chất lỏng.  Đối với nội thân có thể kể là: mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu.. Đối với ngoại thân có thể kể là nước của sông, hồ, biển cả…
Hoả giới giới được định nghĩa ở đây là: Cái gì thuộc lửa, thuộc chất nóng. Đối với nội thân có thể kể là: chất nóng giúp tiêu hóa, chất ấm của cơ thể. Đối với ngoại thân có thể kể là lửa nấu nướng, lửa cháy rừng…
Phong giới được định nghĩa ở đây là: Cái gì thuộc gió, thuộc động tánh. Đối với nội thân  được kể là: hơn thở, khí vận hành… Đối với ngoại thân có thể kể là gió, giông bão, áp suất thời tiết…


392. Quán sát tứ đại ở đây được thực hành thế nào?

Một hiện tượng rất thường xảy ra trong cuộc sống là phải đối diện với những sự trạng bất bình, chướng nghịch, bất như ý. Đây là hoàn cảnh mà mà người tu tập có thể trắc nghiệm và tôi luyện khả năng giữ tâm an tịnh. Bốn phương cách sau đây được hướng dẫn trong bài kinh:

 QUÁN TƯỞNG VÔ THƯỜNG
Người tu tập suy xét về sự đổi thay khổ vui, vui khổ do tác động của xúc, thọ, tưởng … vốn đương nhiên trong cuộc sống:
“Chư Hiền, nếu có những người khác mắng nhiếc, chỉ trích, chọc tức, nhiễu não Tỷ-kheo, vị ấy biết rõ như sau: "Khổ thọ khởi lên nơi tôi này thuộc tai xúc chạm; thọ này do nhân duyên, không phải không do nhân duyên. Do nhân duyên gì? Do nhân duyên xúc vậy". Vị ấy thấy xúc là vô thường; vị ấy thấy thọ là vô thường; vị ấy thấy tưởng là vô thường; vị ấy thấy hành là vô thường; vị ấy thấy thức là vô thường; tâm của vị này hoan hỷ, thích thú, tịnh chỉ, quyết định, tùy thuộc giới đối tượng.”

NGHĨ TƯỞNG ĐẾN TAM BẢO
Người tu tập nhớ nghĩ về Bậc Đạo Sư, lời dạy chí thiết của Ngài, và những đệ tử Phật đã cương quyết hành trì lời Phật dạy:
“Chư Hiền, nếu những người khác xử sự với Tỷ-kheo, không có hoàn hảo, không có tốt đẹp, không có khả ái, hoặc dùng tay xúc chạm, hoặc dùng đá xúc chạm, hoặc dùng gậy xúc chạm, hoặc dùng gươm xúc chạm, vị ấy biết như sau: "Sự thể của thân này là như vậy nên tay có thể xúc chạm, đá có thể xúc chạm, gậy có thể xúc chạm, gươm có thể xúc chạm". Thế Tôn đã dạy như sau trong ví dụ cái cưa: "Chư Tỷ-kheo, nếu có kẻ trộm cướp hạ tiện lấy cái cưa hai lưỡi cắt từng phần tay và chân, nếu ai ở đây sanh ý phẫn nộ thì người ấy không làm đúng lời Ta dạy". Ta sẽ tinh cần, tinh tấn, không giải đãi, niệm được an trú, không có loạn niệm, thân thể được khinh an, không dao động, tâm được định tĩnh nhất tâm. Nay mặc cho tay xúc chạm thân này, mặc cho đá xúc chạm, mặc cho gậy xúc chạm, mặc cho gươm xúc chạm thân này. Lời dạy chư Phật cần phải được thực hành".

Chư Hiền, Tỷ-kheo ấy, niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị dao động mạnh: "Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú". Chư Hiền, ví như một người dâu, khi thấy ông nhạc, bị dao động, bị dao động mạnh. Cũng vậy, chư Hiền, nếu Tỷ-kheo ấy niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú. Do vậy, vị ấy bị dao động, bị dao động mạnh: "Thật bất hạnh cho ta, thật không may cho ta, thật rủi ro cho ta, thật không tốt đẹp cho ta. Dầu ta có niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, nhưng xả tương ưng với thiện không được an trú". Chư Hiền, nếu Tỷ- Kheo ấy niệm Phật như vậy, niệm Pháp như vậy, niệm Tăng như vậy, và xả tương ưng với thiện được an trú. Do vậy, Tỷ-kheo ấy được hoan hỷ. Chư Hiền, cho đến mức độ này, Tỷ-kheo đã làm thật nhiều.”

QUÁN TƯỞNG LÝ VÔ NGÃ QUA GIẢ HỢP CỦA CĂN, CẢNH VÀ THỨC 

Chư Hiền, như một khoảng trống được bao vây bởi cây gậy, bởi dây leo, bởi cỏ, bởi bùn, được biết là một nhà ở. Cũng vậy, Chư Hiền, một khoảng trống được bao vây bởi xương, bởi dây gân, bởi thịt, bởi da, được biết là một sắc pháp.

Chư Hiền, nếu nội mắt không bị hư hại, nhưng ngoại sắc không vào trong tầm mắt, không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi. Chư Hiền, nếu nội mắt không bị hư hại, ngoại sắc vào trong tầm mắt, nhưng không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi. Chư Hiền, chỉ khi nào nội mắt không bị hư hại, ngoại sắc vào trong tầm mắt, có sự quy tục xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp có hiện khởi.

Bất cứ sắc pháp gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong sắc thủ uẩn; bất cứ cảm thọ gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thọ thủ uẩn; bất cứ tưởng gì được hiện khởi như vậy đều được quy tụ trong tưởng thủ uẩn; bất cứ hành gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong hành thủ uẩn; bất cứ thức gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thức thủ uẩn. Vị ấy tuệ tri như sau: "Như vậy, như người ta nói, có sự quy tụ, sự tập hợp, sự hòa hợp của năm thủ uẩn này. Thế Tôn đã nói như sau: "Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi". Những pháp này do duyên khởi lên chính là năm thủ uẩn. Sự tham dục, chấp trước, tham đắm, mê say trong năm thủ uẩn này tức là khổ tập; sự nhiếp phục tham dục, sự từ bỏ tham dục tức là sự khổ diệt". Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỷ-kheo đã làm rất nhiều.

Chư Hiền, nếu nội tai không bị hư hại, nhưng ngoại thanh không vào trong tầm tai, không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi. ... Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỷ-kheo đã làm rất nhiều.

Chư Hiền, nếu nội lỗ mũi không bị hư hại, nhưng ngoại hương không vào trong tầm mũi, không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi. ... Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỷ-kheo đã làm rất nhiều.

Chư Hiền, nếu nội lưỡi không bị hư hại, nhưng ngoại vị không vào trong tầm lưỡi, không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi. ... Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỷ-kheo đã làm rất nhiều.

Chư Hiền, nếu nội thân không bị hư hại, nhưng ngoại xúc không vào trong tầm của thân, không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi. ... Cho đến mức độ này, Chư Hiền, Tỷ-kheo đã làm rất nhiều.

Chư Hiền, nếu nội ý căn không bị hư hại, ngoại pháp vào trong tầm của ý căn, nhưng không có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp không có hiện khởi. Chư Hiền, chỉ khi nào nội ý căn không bị hư hại, ngoại pháp vào trong tầm của ý căn, có sự quy tụ xúc chạm thích hợp, thì thức phần thích hợp có hiện khởi. 

QUÁN CHIẾU TẤT CẢ CHỈ LÀ HIỆN TƯỢNG CỦA THỦ UẨN TỪ ĐÓ SỐNG VỚI GIÁO LÝ DUYÊN SINH.
Đây là cách nhìn “chuyện nào ra chuyện đó” để tâm không đi quá xa trong sự thêm thắt, khuếch tán những sự việc xẩy ra bằng cách nhận thức cuộc sống là sự tồn tại của năm uẩn và sắc uẩn chỉ sắc uẩn, thọ uẩn chỉ là thọ uẩn … 
Bất cứ sắc gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong sắc thủ uẩn; bất cứ cảm thọ gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thọ thủ uẩn; bất cứ tưởng gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong tưởng thủ uẩn; bất cứ hành gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong hành thủ uẩn; bất cứ thức gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thức thủ uẩn. Vị ấy tuệ tri như sau: "Như vậy, như người ta nói, có sự quy tụ, sự tập họp, sự hòa hợp của năm thủ uẩn này. Thế Tôn đã nói như sau: "Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi". Những pháp này do duyên khởi lên chính là năm thủ uẩn. Sự tham dục, chấp trước, tham đắm, mê say trong năm thủ uẩn này tức là khổ tập; sự nhiếp phục tham dục, sự từ bỏ tham dục tức là sự khổ diệt". Cho đến mức độ này, chư Hiền, Tỷ-kheo đã làm rất nhiều. 



II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1: TT Giác Đẳng đúc kết phần trắc nghiệm



 III Trắc Nghiệm

Trắc nghiệm 1. Khi nghịch cảnh xẩy ra, người tu tập quán chiếu vô thường thấy rằng sự xáo trộn, thay đổi vốn dĩ tự nhiên. Cái nhìn đó giúp giảm thiểu phản ứng phiền não. Lý do nào sau đây khiến sự quán chiếu vô thường có tác dụng an tịnh tâm ý trước nghịch cảnh?  
A. Vì sự quán chiếu đó giúp hành giả nhìn sự việc từ góc cạnh khác (thay vì trách móc, oán hận hay than thở) / 
B. Chấp nhận sự vô thường là điều không thể tránh khỏi trong cuộc sống /
 C. Nhận được hệ quả của tác động dây chuyền của xúc,
D. Cả ba câu trên đều đúng !

TT Pháp Đăng cho đáp án trắc nghiệm 1: D

Trắc nghiệm 2. Sự phân tích và nhận rõ năm thủ uẩn giúp hành giả điều nào sau đây?
 A. Không để sự việc lây lan khiến cho tình trạng tệ hơn (thí dụ gặp chuyện không vui tạo nên mặc cảm là mình xui xẻo so với người khác) / 
B. Hiểu được phương cách trị liệu bằng cách “chia ngăn” của cuộc sống (Chuyện nào ra chuyện đó. Thí dụ: ký ức là ký ức không nên để quá khứ ám ảnh hiện tại) / 
C. Thấy được đời sống là sự đấp đổi của dòng sanh diệt (hết vui tới khổ, hết khổ rồi vui. Không thể luôn đứng yên một trạng thái) / 
D. Ba câu A, B, C đều đúng.


ĐĐ Pháp Tín cho đáp án trắc nghiệm 2:D

Trắc nghiệm 3. Nghĩ tưởng đến Tam Bảo (Đức Phật dạy những đứa con của Ngài nên học hạnh kham nhẫn, giáo pháp là con đường thanh tịnh nội tâm, chư tăng là những đệ tử kiên trì hành theo lời Phật dạy) cho hành giả điều nào sau đây?
 A. Năng lực phù hộ tai qua nạn khỏi /
 B. Nghị lực chịu đựng đối với nghịch cảnh /
 C. Uy lực khiến kẻ thù khiếp sợ / 
D. Được quới nhân phù hộ


TT Tuệ Siêu cho đáp án trắc nghiệm 3: B

Saturday, January 4, 2020

Bài học. Thứ Bảy ngày 4-1-2020

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng sư: TT Pháp Tân
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY  4/1/2020 
27. Tiểu kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi (Cùlahatthipadopama sutta)


379. Tại sao gọi là  Tiểu kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi (Cùlahatthipadopama sutta)?

Gọi là Tiểu kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi (Cùlahatthipadopama sutta) vì sau bài kinh nầy có bài kinh khác cũng mang ví dụ dấu chân voi nhưng dài hơn nên được gọi là Đại kinh Ví Dụ Dấu Chân Voi. Mặc dù đều là dấu chân voi nhưng thí dụ trong hai bài kinh được dùng để minh hoạ hai ý niệm khác nhau. Trước kia bài kinh nầy còn có tên thuần Hán Việt là Tượng Tích Dụ Tiểu Kinh.

380. Đại ý Tiểu Ví Dụ Dấu Chân Voi (Cùlahatthipadopama sutta) là gì?

Du sĩ Pilotika trong cuộc nói chuyện với Bà la môn Jāṇussoṇi đưa ra lời tán thán Tam Bảo “"Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì". Khi được hỏi tại sao vị nầy tin tưởng như vậy thì Pilotika đưa ra thí dụ như một người thấy dấu chân voi có thể nhận ra đó là một con voi lớn. Sau đó Bà la môn Jāṇussoṇi đã thuật lại những gì đã nghe từ du sĩ Pilotika. Nghe xong Đức Phật đã dạy thật ra đó chỉ là sự ca ngợi từ suy luận ban đầu chưa phải là là một lời xưng tán dựa trên thực chứng của bản thân. Rồi Ngài dạy về hành trình tu tập của một thánh đệ tử mà ở sự thành tựu sau cùng mới đúng là nhận rõ giá trị cao cả của Tam Bảo.

381. Du sĩ Pilotika và Bà la môn Jāṇussoṇi là những nhân vật thế nào?

Có rất ít chi tiết được ghi lại trong kinh về du sĩ Pilotika. Đây là bài kinh duy nhất trong Tam Tạng ghi lại về vị nầy. Một du sĩ ngoại đạo có lần gặp Đức Phật và sanh lòng ngưỡng kính đặc biệt.
Bà la môn Jāṇussoṇi  xuất thân từ một trong những dòng dõi bà la môn danh tiếng thời Đức Phật. Vị nầy là một trong những vị tư vấn về nghi lễ cho vua Pasenadi. Trong kinh ghi lại nhiều giai thoại về vị nầy. Cách ăn diện toàn màu trắng sang trọng như trang phục trắng, xe màu trắng, ngựa kéo màu trắng của vị nầy cũng là điểm nổi bật được nhắc đến.
Trong kinh không đề cập cả hai nhân vật trên có những sở chứng gì về đạo quả mà dù có lòng tịnh tín ở Phật.

382. Lời xưng tán cao tột đối với Tam Bảo ở đây là gì?

Nguyên văn Phạn ngữ: sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho - Đức Thế Tôn là bậc toàn giác, giáo pháp được khéo giảng dạy, tăng chúng là những bậc khéo hành trì (hay “Đức Thế Tôn là bậc chánh đẳng giác, Pháp được thiện thuyết, Tăng là bậc diệu hạnh”)

“Đức Thế Tôn” là đại từ thường được dùng để gọi Đức Phật bởi những người có lòng tịnh tín.
Đức Thế Tôn là bậc chánh đẳng giác hay chánh biến tri có nghĩa là bậc biết tất cả và biết một cách thấu triệt.
Pháp được thiện thuyết có nghĩa là giáo pháp được giảng dạy với văn nghĩa cụ túc có hiệu năng giúp chánh sanh thoát khổ.
Tăng là bậc diệu hạnh tức là bậc khéo hành trì một cách chân chánh lời Phật dạy với cả ba phương diện học pháp, hành pháp và chứng ngộ.

383. Tại sao đối với lời xưng tán chí thành chí kính của du sĩ Pilotika Đức Phật vẫn xem đó là lời ca tụng chưa có chiều sâu?

Bởi vì một người hiểu biết, tin tưởng, và xưng tán Tam Bảo một cách chân xác phải là người có học pháp, thực hành và thực chứng. Nếu chỉ xưng tán với ấn tượng ban đầu thì không thể nói là đầy đủ sự hiểu biết để đánh giá.

384. Thí dụ Đức Phật đưa ra khác biệt gì với thí dụ của Pilotika?

Pilotika đưa ra thí dụ một người thấy dấu chân voi có thể biết ngay là con voi đó cao lớn thế nào. Nhưng Đức Phật thì dạy rằng nhìn dấu chân voi chưa đủ mà cho phải đi theo một quảng đường dài quan sát sự cọ sát với cây cỏ, gẫy đứt của nhánh lá dọc đường mới có thể thật sự biết rõ ngà voi, chiều cao, sức nặng …thật sự của con voi.

385. Với thí dụ khác biệt Đức Phật đã dạy gì về “hành trình của một người thành tựu được niệm tin xác thực ở Tam Bảo”?
Đó là hành trình có năm công đoạn:
Phát khởi niềm tin ban đầu với ý thức giá trị về con đường tu tập nội tâm.
Thành tựu giới uẩn là chấp nhận và hành trì có học giới một cách nghiêm túc để nhiếp hoá thân, khẩu.
Thành tựu định uẩn là có huân tu định và niệm với các thiền chi và dần dà giảm thiểu thiền chi quan các tầng thiền.
Thành tựu tuệ uẩn là chứng được các tuệ minh
Thành tựu giải thoát “ khởi lên sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát". Vị ấy biết: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không có trở lui đời sống này nữa"

Có học hiểu, có thực hành, có tự thân chứng ngộ thì mới có thể nói là  như vậy gọi là theo dấu chân của Khổng tượng, thấy được dấu cọ xát của Khổng tượng, nhận ra dấu cắt chém của Khổng tượng. Này Bà-la-môn, tới mức độ này, vị Thánh đệ tử đi đến kết luận: "Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì". Tới mức độ này, ví dụ dấu chân con voi thật sự được đầy đủ một cách rộng rãi. 

386. Bà la môn Jāṇussoṇi có thái độ gì sau khi nghe Đức Phật giảng dạy?

Vị bà la môn nghe xong rất hoan hỷ phát tâm quy ngưỡng Tam Bảo. Từ đó về sau trở thành một Phật tử ưa thích học hỏi giáo pháp.



II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Cảm nhận sự vi diệu của Phật pháp thuở ban đầu khác biệt thế nào với sau nhiều năm tu học? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 2. Tại sao câu “svākkhāto bhagavatā dhammo – chánh pháp được Đức Thế Tôn khéo giảng dạy” có một ý nghĩa lớn khi nói về Pháp Bảo? - TT Tuệ Siêu


Thảo luận 3. Cũng thời kính ngưỡng Phật nhưng sự xưng tán của phàm phu khác biệt với của các bậc thánh. Xin cho vài phân tích về điểm nầy. - TT Pháp Đăng

Thảo luận 4. Phải chăng người Phật tử phát khởi đức tin nơi Tam Bảo thì nên hiểu rằng đó chỉ là bước khởi đầu mà cần một hành trình dài để có được niềm tin trọn vẹn? - TT Tuệ Quyền


Thảo luận 5. Nên làm gì để củng cố chánh tín và chánh kiến? - ĐĐ Nguyên Thông




 III Trắc Nghiệm

Friday, January 3, 2020

Bài học - Thứ Sáu ngày 3 tháng 1, 2020

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng sư: ĐĐ Pháp Tín
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY  3/1/2020 
26. Kinh Thánh cầu (Ariyapariyesanà sutta)


370. Tại sao gọi là  Kinh Thánh cầu (Ariyapariyesanà sutta)?
Thánh cầu có nghĩa là sự tìm kiếm thánh thiện hay sự truy cầu cao quý. Đó là nội dung mà Đức Phật dạy cho chư tỳ kheo qua dẫn chứng cụ thể về cuộc đời của Ngài.

371. Đại ý Kinh Thánh cầu (Ariyapariyesanà sutta) là gì?
Lúc bấy giờ Đức Điều Ngự đang trú ở Sàvatthi. Một số chư tỳ kheo mong mỏi được diện kiến và nghe pháp từ Đức Phật. Những vị nầy gặp thị giả của Đức Phật là tôn giả Ananda để bày tỏ nguyện vọng. Qua sự thỉnh cầu của thị giả Đức Thế Tôn đã gặp chư tỳ kheo và trong lời huấn thị Ngài đã đề cập đến hai hướng đi của chúng sanh trong đời: Một là sự lẩn quẩn tự hiện trạng bị sanh, già, đau, chết chi phối lại đi tìm cái tương tự không khác hơn.  Sự tầm cầu thứ hai là hướng đi à cao quý hay thánh cầu là tìm lối thoát chân thật cho hệ luỵ đang có. Đức Phật đã kể lại hành trình của Ngài từ ý thức chỗi dậy trong lòng khi sống ở cung vàng điện ngọc rồi từ bỏ đế nghiệp ra đi. Hành trình sau đó càng lúc càng chứng minh được tánh cách vĩ đại của sự vượt thoát.

372. Hai loại tầm cầu được đề cập mang ý nghĩa thế nào?
Thánh cầu được giải thích: “Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, tìm cầu cái vô sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh... cái không bệnh... tự mình bị chết... cái bất tử... tự mình bị sầu... cái không sầu... tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của ô nhiễm, tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn.”
Phi Thánh cầu được mô tả: “ Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu... tự mình bị ô nhiễm lại tầm cầu cái bị ô nhiễm”. 

373. Đức Thế Tôn đã khai triển ý nghĩa của con đường dẫn đến giải thoát đích thực như thế nào?
Đức Phật trong sự giảng dạy về thánh cầu đã dùng hành trình của bản thân để làm thí dụ cụ thể: Ngài từ bỏ ngai vàng vì nhận ra rằng làm vua, cho dù là một đại đế, vẫn không giải quyết được hệ luỵ trầm kha của kiếp nhân sinh. Ngài từng tìm đến học đạo với hai vị đạo sĩ nổi danh thời bấy giờ rồi sau đó lại bỏ đi. Đức Bồ tát tiếp tục hành trình với trắc nghiệm khổ tu hành xác để rồi chuyển sang trung đạo. Sau khi thành đạo vô thượng Đức Phật đã từng một lần tự hỏi liệu giáo pháp thâm sâu có thể lãnh hội bởi chúng sanh trong đời. Từ cội bồ đề đến vườn Lộc giả chuyển pháp luân Đức Phật cũng kể lại nhiều sự việc mà qua đó cái nhìn của phần đông với không phù hợp với hướng đi của bậc thánh đức.

374. Tại sao Đức Bồ Tát rời bỏ hai vị thầy đầu tiên?
Ngài lên đường, đầu tiên tìm đến hai vị chân sư để học đạo đó là Alara Kalama  và Uddaka Ramaputta ; hai vị nầy một chứng thiền vô sở hữu xứ, một chứng thiền phi tưởng phi phi tưởng xứ. Bồ tát nhanh chóng chứng đạt sở đắc của hai vị thầy và được mời ở lại cùng ngồi vào chiếc ghế của giáo chủ nhưng Ngài từ chối vì thấy đó không phải là cứu cánh đích thực. 
375. Tại sao thánh cầu là ý hướng cao quý nhưng không nằm trong ý nghĩ của phần đông?
Chúng sanh đa phần hướng đến thủ đắc hơn là từ bỏ. Muốn đạt đến bờ kia phải từ bỏ bờ nầy. Ngay cả đối với phần lớn người tu cũng mang hội chứng sùng bái tự ngã. Đức Phật dạy một con đường hoàn toàn khác:
Rồi này các Tỷ-kheo, Ta tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; và đã chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị bệnh, tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị chết, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị chết, tìm cầu cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị sầu, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sầu, tìm cầu cái không sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái vô sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị ô nhiễm, tìm cầu cái không bị ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đã chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Và tri kiến khởi lên nơi Ta. Sự giải thoát của Ta không bị dao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không còn sự tái sanh nữa. 
Đó cũng là một phần lý do mà Đức Phật đã có giây phút tự hỏi không biết chúng sanh có thể lãnh hội về áo nghĩa giác ngộ giải thoát hoàn toàn ngược với khuynh hướng cố hữu.

376. Tại sao Upaka đã dừng lại ở ngưỡng cửa giải thoát?
Upaka có duyên lành được nhìn thấy tướng hảo phi phàm của Đức Phật và nghĩ rằng đây phải là một hiện thân của thần linh hay một bậc có nhiều huyền thuật. Khi được hỏi Ngài là ai thì Đức Phật trả lời “Tự mình Chánh Ðẳng Giác/ Ta an tịnh, thanh thoát”. Upaka không thấy có giá trị gì ở một người giác ngộ, không phiền não bởi vì những điều đó không quan trọng đối với người nầy.
(Thật ra sau nầy Upaka từ bỏ đời sống của một đạo sĩ để lập gia đình có vợ con. Nhưng rồi cũng không tìm thấy ý nghĩa đáng quý của cuộc sống nên đến Vương Xá xuất gia với Đức Phật. Vị nầy cuối cùng đắc chứng đạo quả nhưng phải đi một con đường vòng thay vì trực tiếp từ ban đầu)

377. Định kiến đã ngăn ngại thế nào với nhóm Năm Tỳ Kheo?  Đức Phật đã thay đổi họ bằng cách nào?
Nhóm năm thầy Kiều Trần Như từng là những người hâm mộ và nuôi kỳ vọng ở Đức Bồ Tát khi Ngài đang tu khổ hạnh. Khi Bồ Tát quyết tâm chọn con đường trung đạo khiến năm vị nầy thất vọng bỏ đi. Khi gặp lại ban đầu họ nói với nhau sẽ không đón tiếp Đức Phật bằng thái độ kính trọng nhưng phong thái của Đức Phật có phần thay đổi sự suy nghĩ ban đầu của họ. Tuy vậy những vị nầy vẫn chưa chấp nhận Đức Phật là bậc Đạo sư vì hoài nghi sự từ bỏ khổ hạnh mà họ tin là tuyệt đối cao cả. Cho đến khi Đức Phật nhắc cho họ nhớ Ngài chưa bao giờ nói là đã giác ngộ trong thời gian trước đây. Điều nầy khiến họ tin vào lời nói của Đức Phật là chân thật ngôn. Từ đó thay đổi thái độ và nghe Thế Tôn giảng pháp để trở thành những đệ tử xuất gia đầu tiên.
378. Hành trình được gọi sự tầm cầu của bậc thánh được mô tả ở đây thế nào?
Đó là hành trình tu chứng bao gồm chỉ và quán. Mỗi sự thành tựu đề là giai đoạn cần vượt qua chứ không phải để chấp thủ cho đến khi đạt cứu cánh viên mãn của cả hai tâm giải thoát và tuệ giải thoát: “Sau khi thấy bằng trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn trừ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là một vị đã làm Ác ma mù mắt, đã diệt trừ mọi vết tích, đã vượt khỏi tầm mắt Ác ma. Vị ấy đã vượt khỏi mọi triền phược ở đời. An tâm vị ấy đi, an tâm vị ấy đứng, an tâm vị ấy ngồi, an tâm vị ấy nằm. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì vị ấy vượt khỏi tầm tay của Ác ma.” 



II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Phải chăng cho dù một người 50 tuổi vẫn còn bị chi phối bởi sự sanh? - TT Tuệ Quyền

Thảo luận 2. Phải chăng TOÀN BỘ CUỘC SỐNG đều bị sanh già đau chết chi phối? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 3. Nếu con đường tu Phật là vượt thoát sự sanh già đau chết chi phối thì tại sao những người tu Phật không trường sanh bất tử? - TT Tuệ Siêu




 III Trắc Nghiệm

Trắc nghiệm 1. Giới hạn tuổi thọ, những căn bệnh di truyền, sắc vóc vốn đã quyết định ngay từ lúc thụ thai. Đó là biểu hiện của sự chi phối nào sau đây? 
A. Chi phối bởi sanh / 
B. Chi phối bởi già/
 C. Chi phối bởi bệnh /
 D. Chi phối bởi chết


TT Pháp Tân cho đáp án trắc nghiệm 1: A

Trắc nghiệm 2. Nếu không bị lão hoá, thể lực không đi xuống, sức sống không suy tàn thì những định hướng cho cuộc đời như nghề nghiệp, hôn nhân đã khác hơn hoàn toàn. Đó là biểu hiện của sự chi phối nào sau đây? 
A. Chi phối bởi sanh /
 B. Chi phối bởi già/ 
C. Chi phối bởi bệnh /
 D. Chi phối bởi chết


ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án trắc nghiệm 2:

TT Giác Đẳng cho đáp án trắc nghiệm 2: B


Thursday, January 2, 2020

Bài học. Thứ Năm ngày 2 tháng 1, 2020

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng sư: TT Tuệ Siêu
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY  2/1/2020 
25. Kinh Bẫy mồi (Nivàpa sutta)

362. Tại sao gọi là  Kinh Bẫy mồi (Nivàpa sutta)?
Tên kinh lấy từ thí dụ trong bài kinh mà trong đó người thợ săn dùng bẫy mồi để dụ bắt những con nai. Dụ ngôn nầy để chỉ cho những cạm bẫy mà một người tu tập có thể vướng phải.

363. Đại ý Kinh Bẫy mồi (Nivàpa sutta) là gì?
Đây là một pháp thoại được Đức Thế Tôn giảng cho Tăng chúng trong sinh hoạt hằng ngày tại chùa Jetavana, Sàvatthi. Nội dung bài kinh mang một thí dụ về bốn đàn nai đối với bẫy mồi của thợ săn.
Trên thực tế thì nai là loài ưa thích sống giữa lằn ranh của rừng rậm hoang dã và xóm làng. Những con nai thường có khả năng thích nghi rất tốt và rất khôn ngoan để đối phó với những cách săn bắt khác nhau của con người.
Trong bài kinh nầy Đức Phật dùng bốn đàn nai để làm thí dụ:
Đàn nai mê ăn mồi nên dễ dàng sa vào bẫy
Đàn nai biết mồi là nguy hiểm nên trốn sâu vào rừng rơi vào tình trạng đói kém nghiêm trọng nên cuối cùng trở lại tìm thức ăn và bị thơ săn bắt.
Đàn nai thứ ba học được kinh nghiệm đau thương của hai đàn nai trước đi tìm nơi ẩn trú nhưng vì thỉnh thoảng phải đi tìm thức ăn nhưng mê ăn đến độ quên mình nên cuối cùng bị thợ săn phát hiện rồi cũng bị bắt.
Đàn nai thứ tư tinh khôn biết tìm nơi ẩn núp khó tìm; ăn thì ăn nhưng chẳng say đắm thức ăn đến mức quên mình; không để lại dấu vết những chỗ đến đi khiến thợ săn bó tay không làm gì được.

364. Thí dụ về đàn nai mê ăn mồi nên dễ dàng sa vào bẫy được Thế Tôn chỉ cho hạng người tu tập thế nào?
Đó là những sa môn, bà la môn hay người tu tập lợi dưỡng. Do lợi dưỡng nên dể dàng bị uế nhiễm bởi trần cảnh. Từ đó phóng dật và rơi vào vòng cương toả của ác ma.


365. Thí dụ đàn nai biết mồi là nguy hiểm nên trốn sâu vào rừng rơi vào tình trạng đói kém nghiêm trọng nên cuối cùng trở lại tìm thức ăn và bị thơ săn bắt để nói cho hạng người tu tập thế nào?
Thí dụ nầy chỉ cho những người khổ hạnh ép xác. Ở giai đoạn đầu có vẻ như thượng sách nhưng vì sự hành xác không mang lại giải thoát đích thực mà trái lại khi bỏ cuộc thì lao mình vào sự hưởng thụ dục lạc rồi sa đoạ.


367. Thí dụ về đàn nai thứ ba học được kinh nghiệm đau thương của hai đàn nai trước đi tìm nơi ẩn trú nhưng vì thỉnh thoảng phải đi tìm thức ăn nhưng mê ăn đến độ quên mình nên cuối cùng bị thợ săn phát hiện rồi cũng bị bắt ám chỉ những ai?
Đó là những người tu tập tương đối có trình độ nhưng rơi vào kiến chấp, khao khát tri thức, đam mê triết lý để rồi cuối cùng không làm được điều quan trọng của đời sống phạm hạnh là đoạn tận kiết sử , thành tựu chánh trí. 

368. Dụ ngôn đàn nai thứ tư tinh khôn biết tìm nơi ẩn núp khó tìm; ăn thì ăn nhưng chẳng say đắm thức ăn đến mức quên mình; không để lại dấu vết những chỗ đến đi khiến thợ săn bó tay không làm gì được dùng để nói lên hạng người nào?
Đó là những bậc tu hành tu tập chỉ quán vượt qua tất cả giai đoạn của hành trình cuối cùng chứng đắc cả hai tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Đên đi giữa cuộc đời không để lại dấu vết và ác ma không tìm bắt được.

369. Ác ma trong bài kinh nầy là một cách nói ví von (nhân cách hoá) hay là một thực hữu?
Đây là điểm thú vị trong kinh điển. Năm loại ma được đề cập trong kinh điển là: 1. Phiền não ma (Kilesamāra). 2. Ngũ uẩn ma (Khandhamāra). 3. Sở hành ma (Abhisaṅkhāramāra). 4. Thiên  ma (Devaputtamāra). 5. Tử thần ma (Maccumāra) bao gồm cả hai khái niệm. 



II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Nếu một người tu thường khao khát thoả mãn tri thức thì nên làm gì để quân bình cuộc sống? - TT Tuệ Quyền

Thảo luận 2. Tại sao phần đông quần chúng hâm mộ những người tu lập hạnh đặc dị? - ĐĐ Nguyên Thông




 III Trắc Nghiệm

Trắc nghiệm 1. Đàn nai nào sau đây được ví dụ cho hạng tu hành bị vướng vấp vào kiến chấp?
 A. Đàn nai thứ nhất /
 B. Đàn nai thứ hai /
 C. thứ ba / 
D. Đàn nai thứ tư

TT Pháp Đăng cho đáp án trắc nghiệm 1: C

Trắc nghiệm 2. Đàn nai nào sau đây được ví dụ cho hạng tu hành bị vướng vấp vào cực đoan khổ hạnh? 
A. Đàn nai thứ nhất /
 B. Đàn nai thứ hai /
 C. Đàn nai thứ ba /
 D. Đàn nai thứ tư


ĐĐ Pháp Tín cho đáp án trắc nghiệm 2:B

Trắc nghiệm 3. Đàn nai nào sau đây được ví dụ cho hạng tu hành đến đi không để lại dấu vết, làm mù mắt ác ma?
 A. Đàn nai thứ nhất / 
B. Đàn nai thứ hai /
 C. Đàn nai thứ ba / 
D. Đàn nai thứ tư


ĐĐ Pháp Tín cho đáp án trắc nghiệm 3:D


Trắc nghiệm 4. Đàn nai nào sau đây được ví dụ cho hạng tu hành bị vướng vấp vào lợi dưỡng?
 A. Đàn nai thứ nhất /
 B. Đàn nai thứ hai / 
C. Đàn nai thứ ba /
 D. Đàn nai thứ tư

ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án trắc nghiệm 4:A


Wednesday, January 1, 2020

Chương trình đặc biệt tân niên 2020

Chương trình đặc biệt tân niên 2020

Hôm nay Lớp Phật Pháp Buddhadhamma sẽ dành một buổi học cho chương trình đặc biệt tân niên 2020:

Lễ Tam Bảo
Lời chúc lành của chư tăng
Lời cầu chúc của Phật tử
Nhìn lại sinh hoạt của Lớp Phật Pháp Buddhadhamma năm 2019: hoàn tất giáo trình Trường Bộ - khởi giảng giáo trình Trung Bộ - hai lần họp mặt của chư vị giảng sư tại Lào và Miến Điện - khoảng thời gian vắng mặt chư tăng trong room.
Nhìn lại sinh hoạt lớp Phật Pháp thập niên 2010
Những dự phỏng sinh hoạt cho thập niên tới
Hồi hướng