Tuesday, February 4, 2020

Bài học. Thứ Ba, ngày 4 tháng 2, 2020

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng sư: TT Tuệ Quyền
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY  4/2/2020 
50. Kinh Nghiêm Huấn Ác Ma (Màratajjanìya sutta)

567. Tại sao gọi Kinh Nghiêm Huấn Ác Ma ?
Tên bài kinh được đặt theo theo nội dung mà qua đó Tôn giả Mahàmoggallàna khiển trách ác ma đã quấy nhiễu Ngài. Trong bản dịch tựa đề của kinh là Kinh Hàng Ma. Thật ra chữ tajjanìya có nghĩa là quở trách chứ không phải là hàng phục nên đổi lại thành Kinh Nghiêm Huấn Ác Ma.
         
568. Đại ý Kinh Nghiêm Huấn Ác Ma là gì?

569. Tôn giả Mahàmoggalàna là nhân vật thế nào? Ác ma trong kinh nầy là chúng sanh thế nào?
Tôn giả Mahàmoggallàna thường được  biết qua âm Hán Việt là Mục Kiền Liên là một trong hai thượng thủ thinh văn của Đức Phật. Ngài được biết là đệ nhất về thần thông và là một trong hai vị giáo thọ lớn nhất của Tăng chúng.
Có ba điểm được biết về bậc đại thánh nầy:
a.    Do nhiều kiếp chú trọng về tu dưỡng thần thông nên Ngài tạo nhiều ác nghiệp và bị quả khổ trái ngược với hạnh thiên về trí tuệ của tôn giả Sàriputta (hai vị là bạn đồng song chí thân)
b.    Tôn giả Mục Kiền Liên từng có tiền kiếp tạo ác nghiệp với cha mẹ ruột của mình nên quả nghiệp đeo đẳng nhiều đời.
c.     Ngài là vị từng thăm viếng nhiều cảnh giới như địa ngục hay cõi trời hoặc mục kích các loài ngạ quỹ và  sau đó thuật lại qua nhiều bài kinh trong Tam Tạng Pali.
Có lẽ vì hai điểm sau nên kinh điển Phật giáo Bắc Truyền tạo thành một hình ảnh “Đại hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát” với mô tả về hành trình vào địa ngục cứu mẹ như một cách “làm đẹp” hình ảnh của một thượng thủ thinh văn.
Ác ma trong kinh nầy là một dạ xoa nhiều thần lực có liên hệ quyến thuộc đời trước với tôn giả:
-- Ác ma, ở đây, ta cũng thấy Ngươi. Ngươi chớ có nghĩ rằng: "Vị ấy không thấy ta". Này Ác ma, nay Ngươi đang đứng dựa nơi cửa miệng. Này Ác ma, thuở xưa, ta là Ác ma tên là Dusi, và chị ta tên là Kali. Ngươi là con trai chị ta. Như vậy Ngươi là cháu ta.

570. Ác ma quấy phá Tôn giả Mục Kiền Liên thế nào?

Ác ma chui vào thân của Tôn giả:
Lúc bấy giờ, Tôn giả Maha Moggallana đang đi kinh hành ngoài trời. Khi ấy Ác ma đi vào bụng Tôn giả Maha Moggallana, ở trong bao tử. Rồi Tôn giả Maha Moggallana nghĩ như sau: "Nay sao bụng của Ta lại nặng nặng như có gì chồng chất quá đầy?" Rồi Tôn giả Maha Moggallana từ chỗ kinh hành bước xuống, đi vào tự viện, và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.
Sau khi ngồi, Tôn giả Maha Moggallana tự chánh niệm. Tôn giả Maha Moggallana thấy Ác ma, sau khi đi vào trong bụng, đang ở trong bao tử. Thấy vậy, Tôn giả liền nói với Ác ma:
-- Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra, Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!
Rồi Ác ma suy nghĩ: "Vị Sa-môn này không biết ta, không thấy ta, lại nói như sau: "Hãy đi ra, Ác ma! Hãy đi ra Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai, và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài". Chính vị Bổn sư cũng chưa biết ta mau như vậy, làm sao vị đệ tử này có thể biết ta được?"
Rồi Tôn giả Maha Moggallana lại nói với Ác ma như sau:
-- Này Ác ma, ta biết Ngươi. Ðừng có nghĩ rằng: "Vị ấy không biết ta". Ngươi là Ác ma. Này Ác ma, Ngươi nghĩ như sau: "Vị Sa-môn này không biết ta, không thấy ta, lại nói như sau: "Hãy đi ra, Ác ma! hãy đi ra Ác ma! Chớ có phiền nhiễu Như Lai và đệ tử Như Lai. Chớ có khiến cho Ngươi bị bất hạnh, đau khổ lâu dài!" Chính vị Bổn sư cũng không biết ta mau như vậy, làm sao vị đệ tử này có thể biết ta được?"

571. Tôn giả Mahàmoggallàna nghiêm huấn ác ma thế nào?
Tôn giả huấn thị ác ma bằng việc kể lại nhân quả đời trước của chính mình:
Này Ác ma, lúc bấy giờ, Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán,  Chánh Ðẳng Giác có hai vị đệ tử tên là Vidhura, và Sanjiva, hai bậc tối thượng, hai bậc Hiền giả. Này Ác ma, đối với các vị đệ tử của Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không một ai ở đây có thể bằng Tôn giả Vidhura về thuyết pháp. Này Ác ma, vì lý do này, Tôn giả Vidhura được gọi là Vidhura (Vô song). Còn Tôn giả Sanjiva là vị đi rừng, đi gốc cây, đi các chỗ không người và chứng Diệt thọ tưởng định không khó khăn gì.
Này Ác ma, thuở xưa, Tôn giả Sanjiva đang ngồi nhập Diệt thọ tưởng định dưới một gốc cây. Này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành thấy Tôn giả Sanjiva đang ngồi nhập Diệt thọ tưởng định dưới một gốc cây, thấy vậy liền nói với nhau như sau: "Thật vị diệu thay, này các Tôn giả! Thật hy hữu thay, này các Tôn giả! Vị Sa-môn này chết mà vẫn ngồi. Chúng ta hãy hỏa táng ngài!" Rồi này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành liền thâu lượm cỏ, củi và phân bò chồng lên thân Tôn giả Sanjiva, đốt lửa và bỏ đi.
Này Ác ma, Tôn giả Sanjiva, sau khi đêm ấy đã tàn, liền xuất định, phủi áo, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát vào làng khất thực. Này Ác ma, các người chăn bò, chăn thú, làm ruộng, các lữ hành thấy Tôn giả Sanjiva đang đi khất thực, thấy vậy liền nghĩ: "Thật vị diệu thay, này các Tôn giả! Thật hy hữu thay, này các Tôn giả! Vị Sa-môn này chết mà vẫn ngồi, nay được sống lại". Này Ác ma, vì lý do này, Tôn giả Sanjiva được xưng danh là Sanjiva, Sanjiva.
Này Ác ma, rồi Ác ma Dusi nghĩ như sau: "Ta không biết chỗ đến và chỗ đi của các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện pháp này. Vậy nay ta hãy nhập vào hàng Bà-la-môn gia chủ và nói như sau: "Hãy đến phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Do bị phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại bởi các Người, các vị ấy có thể đổi tâm và như vậy, Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ. "


572. Khi ma muốn chi phối đệ tử Phật bằng chướng nghịch được kể thế nào?
Bằng cách xui khiến các gia chủ phỉ báng, quấy nhiễu chư tỳ kheo:
Ác ma Dusi nghĩ như sau: "Ta không biết chỗ đến và chỗ đi của các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện pháp này. Vậy nay ta hãy nhập vào hàng Bà-la-môn gia chủ và nói như sau: "Hãy đến phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Do bị phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại bởi các Người, các vị ấy có thể đổi tâm và như vậy, Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ. "
Rồi này Ác ma, Ác ma Dusi nhập vào hàng Bà-la-môn gia chủ và phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại các vị Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh như sau: "Những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Họ nói: "Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền" và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền. Ví như con cú đậu trên cành cây, khi đang rình chuột; tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền; cũng vậy, những kẻ trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, tiện nô, hắc nô, sanh tự gót chân này. Chúng nói: "Chúng tôi tu thiền, chúng tôi tu thiền", và với hai vai thụt xuống, với mặt cúi xuống, mê mê dại dại, tu thiền, mê thiền, si thiền, dại thiền". Này Ác ma lúc bấy giờ, phần lớn những người ấy sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác gọi các Tỷ-kheo:
"-- Này các Tỷ-kheo, những Bà-la-môn gia chủ bị Ác ma Dusi nhập vào và nói: "Hãy đến phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Do bị phỉ báng, mạ lị, thống trách và nhiễu hại bởi các Người, các vị ấy có thể đổi tâm, và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ".
Này các Tỷ-kheo, hãy đến biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, rồi an trú, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ..., biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, rồi an trú; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân".
Rồi các Tỷ-kheo ấy được Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khuyến khích như vậy, khuyến giáo như vậy dùng tâm từ, bi, hỷ, xả để hoá giải nghịch duyên.

573. Khi ma muốn chi phối đệ tử Phật bằng cám dỗ được kể thế nào?
Ác ma (tiền thân của tôn giả) dùng miếng mồi danh lợi:
Rồi Mara Dusi suy nghĩ như sau: "Làm như vậy, ta không thể biết chỗ đến hay chỗ đi của các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Vậy ta hãy nhập vào các Bà-la-môn gia chủ và nói như sau: "Hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh này. Do được tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường, các vị ấy có thể đổi tâm và như vậy, Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ".
Ác ma Dusi nhập vào các Bà-la-môn gia chủ và nói: "Hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Những vị này được các Ngươi tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường có thể đổi tâm, và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ", Rồi này Ác ma, những Bà-la-môn gia chủ, bị Ác ma Dusi xâm nhập, tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Này Ác ma, sau một thời gian những vị này mạng chung và phần lớn sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, Thiên giới và đời này.
Thế Tôn Kakusamdha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác gọi các Tỷ-kheo:
"-- Này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn gia chủ bị Ác ma Dusi xâm nhập và nói như sau: "Các Ngươi hãy đến tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường các Tỷ-kheo có giới hạnh và thiện tánh. Những vị này được các Ngươi tán thán, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường có thể đổi tâm và như vậy Ác ma Dusi mới có dịp để chi phối họ". Này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy sống quán bất tịnh trên thân, quán tưởng nhàm chán đối với các món ăn, quán tưởng bất khả lạc đối với tất cả thế gian, quán tánh vô thường đối với tất cả hành".
Những Tỷ-kheo ấy được Thế Tôn Kakusandha khuyến khích như vậy, khuyến giáo như vậy, đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, đi đến các chỗ trống vắng, sống quán (tánh) bất tịnh trên thân, (quán) tưởng nhàm chán đối với các món ăn, (quán) tưởng bất khả lạc đối với tất cả thế gian, quán tánh vô thường đối với tất cả hành.



574. Khi ma muốn chi phối đệ tử Phật bằng bạo hành được kể thế nào?
Ác ma (tiền thân của tôn giả) đả thương đệ tử Phật:

Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, buổi sáng đắp y, mang y bát, với Tôn giả Vidhura là thị giả, đi vào làng để khất thực.
Ác ma Dusi nhập vào một đứa trẻ, cầm một hòn đá, đánh trên đầu Tôn giả Vidhura khiến bể đầu. Rồi này Ác ma, Tôn giả Vidhura với đầu bị bể và với máu chảy, vẫn đi sau lưng Thế Tôn Kakusandha, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Rồi này Ác ma, Thế Tôn Kakusandha bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nhìn xung quanh với cái nhìn con voi chúa và suy nghĩ như sau: "Thật vậy, Ác ma Dusi không biết sự vừa phải". Này Ác ma, khi Thế Tôn nhìn xung quanh, thì Ác ma Dusi liền từ chỗ ấy từ trần và sinh vào cõi địa ngục.
Địa ngục ấy được ba tên gọi: Sáu xúc xứ địa ngục, Thiết qua địa ngục, Biệt thọ khổ địa ngục. Rồi các người giữ địa ngục đến ta và nói như sau: "Này Tôn giả, khi cọc sắt sẽ gặp cọc sắt trong tim của Ngươi, Ngươi mới hiểu như sau: "Ta sẽ bị trụng nước sôi một ngàn năm ở địa ngục.''
Và ta, này Ác ma, ta bị trụng nước sôi, trải nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm trong địa ngục. Trải qua một vạn năm trong đại địa ngục ấy, ta bị nấu sôi và cảm thọ cảm giác gọi là Vutthanima. Do vậy, này Ác ma, thân của ta là như vậy, thân như con người, và đầu ta là như vậy, đầu như con cá.

575. Sau khi tôn giả nghiêm huấn ác ma bằng câu chuyện tiền thân thì kết quả thế nào?

Ác ma đã biến mất.


II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Một người tạo ác nghiệp do bị tác động thì quả có nặng không ? - TT Tuệ Siêu

 Thảo luận 2. Có chính xác chăng để nói theo Phật học quán vô thường có công năng giãm thiểu tham , quán khổ nảo có công năng giãm thiểu sân, quán vô ngã có công năng giãm thiểu si ? - TT Tuệ Siêu 

Thảo luận 3. Chúng ta hiểu gì về quan hệ quyến thuộc của một số các loại hóa sanh ? - TT Tuệ Siêu 

Thảo luận 4. Qua bài kinh này thì  chúng ta có nên sợ ma không? - TT Tuệ Siêu 


Thảo luận 5. Trong bài kinh này ác ma muốn chi phối chư Tỳ kheo đã dùng sự hủy báng và lợi đắc cung kính . Phải chăng kinh nghiệm thực tế cho thấy phiền khổ thường ít khả năng khiến chúng ta chao đảo hơn danh lợi ? - TT Tuệ Quyền 




 III Trắc Nghiệm

Monday, February 3, 2020

Bài học. Thứ Hai, ngày 3 tháng 2, 2020

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng sư: TT Giác Đẳng và TT Tuệ Quyền
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY  3/2/2020 
(Brahmanimantanika sutta)

560. Tại sao gọi Kinh Phạm Thiên Mời Thỉnh?
Tên bài kinh được đặt theo theo một chi tiết trong câu chuyện khi Phạm thiên Baka mời thỉnh Đức Phật bước vào cảnh giới vĩnh hằng của mình:
Hãy đến, Tôn giả, thiện lai Tôn giả, đã lâu, nay Tôn giả mới có dịp đến đây. Này Tôn giả, cái này là toàn diện, cái này là thường hằng, cái này là thường tại, cái này là toàn diện, cái này không bị biến hoại, cái này không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi, ngoài cái này không có một giải thoát nào khác hơn.
         
561. Đại ý Kinh Phạm Thiên Mời Thỉnh là gì?

562. Phạm thiên Baka và ma vương là chúng sanh thế nào?
Phạm thiên là chúng sanh hoá sanh do năng lực thiền định với thân sắc tế nhị nên thọ mạng rất dài. Ma vương là chúng sanh đại uy hoá sanh do phúc nghiệp thù thắng thường có tham vọng chi phối muôn loài bằng năng lực của mình.
Cảm thắng Phạm thiên Baka được ghi nhận là một trong tám thể hiện uy lực của Đức Thế Tôn Gotama.
Bà la môn giáo xem Phạm thiên là thượng đế vì bắt nguồn từ sự ngộ nhận của những đạo sĩ chứng thiền nhớ được kiếp trước như được ghi trong Kinh Phạm Võng (Brahmajàlasutta), Trường Bộ.

563. Phạm thiên Baka chấp thủ tà kiến gì?

Do thọ mạng dài lâu và cuộc sống tế nhị Phạm thiên nghĩ mỉnh là đang sống ở cõi vĩnh hằng:

"Cái này là thường, cái này là thường hằng, cái này là thường tại, cái này là toàn diện, cái này không bị biến hoại, cái này không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi, ngoài cái này, không có một giải thoát nào khác hơn"
Ma vương cũng nhân đó tôn xưng Phạm thiên Baka với lời lẽ đầy sai lạc:
Phạm thiên này là Ðại Phạm thiên, Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh.

564. Đức Phật đã nói gì về tà kiến của Phạm thiên Baka?
Trước hết Phật dạy rõ:
"-- Thật sự nầy Phạm thiên Baka, ông bị chìm đắm trong vô minh, thật sự Phạm thiên Baka bị chìm đắm trong vô minh, khi cái vô thường lại nói là thường, cái không thường hằng lại nói là thường hằng, cái không thường tại lại nói là thường tại, cái không toàn diện lại nói là toàn diện, cái bị biến hoại lại nói là không biến hoại, và tại chỗ có sanh, có già, có chết, có diệt, có khởi, lại nói không sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi; có một giải thoát khác hơn lại nói là không có một giải thoát nào khác hơn."
Đức Phật cũng nói thêm là Ngài biết tất cả những gì thuộc về cảnh giới của vị ấy:
"-- Này Phạm thiên, Ta biết việc này. Nếu Ta y trước địa đại... thủy đại... hỏa đại... phong đại... chúng sanh... chư Thiên... Sanh chủ... Nếu Ta y trước Phạm thiên, Ta sẽ gần Ông, trú tại lãnh địa của Ông, làm theo ý Ông muốn, bị đứng ra ngoài lề. Lại nữa, này Phạm thiên, Ta biết sanh thú (gati) của Ông và Ta biết sự quang vinh của Ông. Phạm thiên Baka có thần lực như vậy; Phạm thiên Baka có quyền lực như vậy; Phạm thiên Baka có uy lực như vậy.
"-- Này Tỷ-kheo, như Ông biết sanh thú, Ông biết sự quang vinh của ta: "Phạm thiên Baka có thần lực như vậy; Phạm thiên Baka có quyền lực như vậy; Phạm thiên Baka có uy lực như vậy".
"- Như nhật nguyệt lưu chuyển,
Sáng chói khắp mười phương,
Như vậy mười Thiên giới,
Dưới uy lực của Ông.
Ông biết chỗ cao thấp,
Có dục và không dục,
Hữu này và hữu kia,
Chỗ đến, đi hữu tình.
Như vậy, này Phạm thiên, Ta biết chỗ sanh thú và sự quang vinh của Ông: "Phạm thiên Baka có thần lực như vậy; Phạm thiên Baka có quyền lực như vậy; Phạm thiên Baka có uy lực như vậy".

Rồi Đức Phật khẳng định có những cảnh giới cao hơn cảnh giới của Phạm thiên Baka mà Phật biết trong khi phạm thiên Baka không biết:
Này Phạm thiên, có ba loại chư Thiên mà Ông không biết, không thấy, nhưng Ta biết, Ta thấy. Này Phạm thiên, có loại chư Thiên tên là Abhassara (Quang âm thiên), từ chư Thiên này, Ông mạng chung, và sanh ở nơi đây. Nhưng vì Ông an trú ở đấy quá lâu, nên Ông không nhớ được. Do đó, Ông không biết, không thấy, còn Ta biết, Ta thấy. Như vậy, này Phạm Thiên, Ta còn không chịu ngang hàng Ông về thượng trí huống nữa là thấp hơn. Do vậy, Ta thù thắng hơn Ông.
Này Phạm thiên, lại có một loại chư Thiên tên là Subhakinna (Biến tịnh thiên)... lại có một loại chư Thiên tên là Vehapphala (Quảng quả thiên) mà Ông không biết, không thấy, nhưng Ta biết, Ta thấy. Như vậy, này Phạm thiên, Ta còn không chịu ngang hàng Ông về thượng trí, huống nữa là thấp hơn. Do vậy. Ta thù thắng hơn Ông.

Đức Phật giải thích rõ lý do Ngài thù thắng hơn Phạm thiên vì không có ngã chấp đối với mọi hiện tượng vật chất (như trong kinh Căn Bản Pháp Môn):
Này Phạm thiên, Ta biết địa đại từ địa đại, cho đến giới vức địa đại, Ta không lãnh thọ địa tánh; do biết địa đại, Ta không nghĩ: "Ta là địa đại. Ta ở trong địa đại, Ta từ địa đại, địa đại là của Ta, và Ta không tôn trọng địa đại". Như vậy, này Phạm thiên, về thượng trí Ta hơn ông thì sao gọi là thấp hơn. Do vậy, Ta thù thắng hơn Ông.
Này Phạm thiên, Ta biết thủy đại... Này Phạm thiên, Ta biết hỏa đại... Này Phạm thiên, Ta biết phong đại... Này Phạm thiên, Ta biết chúng sanh... Này Phạm thiên, Ta biết chư Thiên... Này Phạm thiên, Ta biết Sanh chủ... Này Phạm thiên, Ta biết Phạm thiên... Này Phạm thiên, Ta biết Abhassara (Quang âm thiên)... Này Phạm thiên, Ta biết Subhakinna (Biến tịnh thiên)... Này Phạm thiên, Ta biết Vahapphala (Quảng quả thiên)... Này Phạm thiên, Ta biết Abhibhu (Thắng giải)... Này Phạm thiên, Ta biết tất cả (Sabba) từ tất cả, cho đến giới vức tất cả, Ta không lãnh thọ nhứt thiết tánh, Ta không nghĩ: "Ta là tất cả, Ta ở trong tất cả, Ta từ tất cả, tất cả là của Ta, và Ta không tôn trọng tất cả". Như vậy, này Phạm thiên, Ta còn không chịu ngang hàng Ông về thượng trí, huống nữa là thấp hơn. Do vậy, Ta thù thắng hơn Ông.

Phạm thiên phản bác sự từ bỏ chấp hữu vì nếu không có gì thì còn gì để có. Một cách cụ thể là nếu biến hoá thiên hình vạn trạng thì sự chấp hữu phải vạn trạng thiên hình:
"-- Này Tôn giả, đối với tất cả, nếu Tôn giả không lãnh thọ nhất thiết tánh, thì đối với Tôn giả, trở thành trống không, trống rỗng, Thức là phi sở kiến, không biên tế, chói sáng tất cả, nếu không thể lãnh thọ địa đại ngang qua địa tánh, không thể lãnh thọ thủy đại ngang qua thủy tánh, không thể lãnh thọ hỏa đại ngang qua hỏa tánh, không thể lãnh thọ phong đại ngang qua phong tánh, không thể lãnh thọ chúng sanh ngang qua chúng sanh tánh, không thể lãnh thọ chư Thiên ngang qua chư Thiên tánh, không thể lãnh thọ Sanh chủ ngang qua Sanh chủ tánh, không thể lãnh thọ Phạm thiên ngang qua Phạm thiên tánh, không thể lãnh thọ Quang âm thiên ngang qua Quang âm thiên tánh, không thể lãnh thọ Biến tịnh thiên ngang qua Biến tịnh thiên tánh, không thể lãnh thọ Quảng quả thiên ngang qua Quảng quả thiên tánh, không thể lãnh thọ Abhibhu (Thắng giả) ngang qua Abhibhu tánh, không thể lãnh thọ nhứt thiết ngang qua nhứt thiết tánh. Này Tôn giả, nay ta sẽ biến mất trước mặt Tôn giả.

Đức Phật trả lời bằng đề nghị Phạm thiên tự biến mất, một điều một chúng sanh chấp hữu không làm được (...). Rồi Đức Thiên Nhân Sư hiển hoá thần lực siêu nhiên bằng cách thể nhập vào không tướng khiến quần tiên không tìm được dấu tích như vẫn nghe được pháp âm vi diệu.

566. Đức Phật nói gì với Ma Vương?
Ma vương chỉ có thể dẫn đạo sai lạc người không biêt Ma vương là ai, chúng sanh của bóng tối vô minh. Đức Phật trái lại biết rất rõ:

"-- Này Ác ma, Ta biết Ngươi! Ngươi chớ có nghĩ rằng: "Vị ấy không biết ta". Này Ác ma, Ngươi là Ác ma! Ngươi là Ác ma! Này Ác ma, Ngươi nói như vậy không phải vì lòng thương tưởng đối với Ta. Này Ác ma, Ngươi nói như vậy vì không có lòng thương tưởng đối với Ta. Này Ác ma, Ngươi nghĩ như sau: "Những ai được Sa-môn Gotama thuyết pháp, những người ấy sẽ thoát ra ngoài tầm tay ảnh hưởng của ta". Này Ác ma, những Sa-môn, Bà-la-môn ấy không phải Chánh Ðẳng Giác, nhưng tự xưng là: "Chúng ta là Chánh Ðẳng Giác". Này Ác ma, Ta là Chánh Ðẳng Giác và Ta tự xưng Ta là Chánh Ðẳng Giác. Này Ác ma, Như Lai có thuyết pháp cho đệ tử, Như Lai cũng vẫn là Như Lai. Này Ác ma, Như Lai không thuyết pháp cho các đệ tử, Như Lai cũng vẫn là Như Lai. Này Ác ma, Như Lai có hướng dẫn cho các đệ tử, Như Lai cũng vẫn là Như Lai. Này Ác ma, Như Lai không hướng dẫn cho các đệ tử, Như Lai cũng vẫn là Như Lai. Vì sao vậy? Này Ác ma, đối với Như Lai, các lậu hoặc tương ưng với phiền não, đưa đến tái sanh, gây nên phiền lụy, đem đến quả khổ dị thục; đưa đến sanh, già, chết trong tương lai; các lậu hoặc ấy đã được diệt trừ, được cắt đứt tận gốc, được làm như thân cây Tala, khiến không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Này Ác ma, ví như cây tala, dầu thân cây này bị chặt dứt, khiến không thể lớn lên được; cũng vậy, này Ác ma, đối với Như Lai, các lậu hoặc tương ứng với phiền não, đưa đến tái sanh, gây nên phiền lụy, đem đến quả khổ dị thục, đưa đến sanh, già, chết trong tương lai; các lậu hoặc ấy đã được diệt trừ, được cắt đứt tận gốc, được làm như thân cây tala, khiến không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai".


II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành




 III Trắc Nghiệm

Sunday, February 2, 2020

Bài học. Chủ Nhật, ngày 2 tháng 2, 2020

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng sư: TT Giác Đẳng
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY  2/2/2020 
48. Kinh Kosambiya (Kosambiya sutta)

553. Tại sao gọi Kinh Kosambiya ?
Tên bài kinh được đặt theo địa danh Kosambi, nơi Đức Thế Tôn thuyết pháp thoại nầy.
         
554. Đại ý Kinh Kosambiya là gì?
Qua pháp thoại của Đức Phật những điều sau được đặc biệt chú trọng:
a.    Chánh pháp cần được thực hành hơn là tranh luận hơn thua
b.    Vấn đề trước nhất phải nhìn từ góc cạnh cá nhân.
c.     Tâm từ mẫn thể hiện qua lời nói, hành động và ý nghĩ.
d.    Trong sự chung sống của Tăng chúng cần có sự phân chia đồng đều những vật cúng dường và chư tăng đồng thọ trì chung những học giới.
e.     Quan trọng hơn hết vẫn là cái nhìn chân xác ở mỗi cá nhân hay chánh tri kiến.
555. Kosambi là địa danh được biết thế nào trong kinh?”
Kosambi là kinh đô của xứ Vamsas. Đây là một thành phố lớn nằm giữa trục lộ giao thương của hai xứ Kosala và Magadha. Thời Đức Thế Tôn trụ thế có bốn ngôi chùa lớn là Kukkutārāma, Ghositārāma, Pāvārika-ambavana Badarikārāma. Kosambi ghi lại nhiều sử kiện đầy kịch tính như chuyện Magandiyà, chuyện phân hoá của chư tỳ kheo được ghi trong Luật tạng, chuyện hoàng hậu Sāmavatī của vua Udena, chuyện tôn giả Yasa Kākandakaputta triệu tập chư thánh tăng cho lần Trùng Tuyên Tam Tạng thứ hai.
Một cách thú vị là khi sông Ganga (sông Hằng) chảy ngang Kosambi thì đổi thành tên Yamunì.

556. Sáu pháp hoà kính gồm những gì?

Sáu pháp hoà kính  gọi đúng theo nguyên văn là  cha dhammā sārāṇı̄yā được Sớ giải giảng là những gì cần ghi nhớ, không để lãng quên theo thời gian (saritabbayuttta’ addhā ne atikkante pi na pamusitabbā) nên bản dịch tiếng Việt ghi là “sáu pháp  cần phải ghi nhớ”.  Từ vựng saṁran̄janı̄ya có nghĩa chính xác là pháp tạo niềm hoan hỷ (tương tự như ý niệm trong câu hoà khí sanh tài).

-- Này các Tỷ-kheo, có sáu pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến vô tranh luận, hòa hợp, nhất trí. Thế nào là sáu?
[Từ hoà trong hành động]
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng.
[Từ hoà trong ý nghĩ]
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú từ ý hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng.
[Tài vật pháp sanh được phân bố đồng đều, hợp lý]
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các tài vật nhận được đúng pháp, hợp pháp, cho đến những tài vật thâu nhận chỉ trong bình bát, Tỷ-kheo không phải là người không san sẻ, các tài vật nhận được như vậy, phải là người san sẻ dùng chung với các vị đồng phạm hạnh có giới đức.
[Đồng thọ trì chuẩn mực chung các học giới]
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các giới luật không có vi phạm, không có tỳ vết, không có vẩn đục, không có uế tạp, giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp trước, đưa đến thiền định, Tỷ-kheo sống thành tựu trong các giới luật ấy với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng.
[Đồng chia sẻ tri kiến cao cả]
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các tri kiến thuộc về bậc Thánh có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau, Tỷ-kheo, sống thành tựu tri kiến như vậy, cùng với các đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng.
Này các Tỷ-kheo, có sáu pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.

557. Trong sáu pháp hoà kính Đức Phật đặt biệt nhấn mạnh điều nào?”
Trong sáu pháp nẩy Đức Phật đặc biệt nhấn mạnh pháp thứ sáu là tri kiến hay cái nhìn từ góc cạnh cá nhân:
Này các Tỷ-kheo, trong sáu pháp cần phải ghi nhớ này, có một pháp tối thượng, thâu nhiếp tất cả, làm giềng mối cho tất cả, chính là tri kiến này, thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, ví như một căn nhà có mái nhọn như ngọn tháp, có một pháp tối thượng, thâu nhiếp tất cả, làm giềng mối cho tất cả, chính là mái nhọn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong sáu pháp cần phải ghi nhớ này, có một pháp tối thượng, thâu nhiếp tất cả, làm giềng mối cho tất cả, chính là tri kiến này, thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau.

558. Tri kiến trong trường hợp nầy là những gì?”
Những tri kiến nầy có được do thực tu, thực chứng của mỗi cá nhân trong cộng đồng Tăng chúng:

[Tri kiến quán sát và chế ngự năm triền cái]
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng, hay đi đến dưới gốc cây, hay đi đến chỗ trống vắng và suy nghĩ như sau: "Không biết ta có nội triền nào chưa đoạn trừ không? Do nội triền này nếu tâm ta bị triền phược, thì ta không thể biết như thật, không thể thấy như thật?" Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo bị tham dục triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo bị sân triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo bị hôn trầm thụy miên triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo bị trạo hối triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo bị nghi triền phược, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có tâm bị thế sự đời này ràng buộc, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo có tâm bị thế sự đời sau ràng buộc, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược. Tỷ-kheo sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau với những binh khí miệng lưỡi, cho đến như vậy, tâm (của vị này) bị triền phược.
Vị ấy biết rõ như sau: "Ta không có nội triền chưa được đoạn trừ, do nội triền này nếu tâm ta bị triền phược, ta không thể biết như thật, không thể thấy như thật. Ý của ta được khéo hướng đến sự giác ngộ các sự thật". Ðó là trí thứ nhất mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng.
[Tri kiến quán sát về sự tịnh chỉ của nội tâm]
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Trong khi ta thực tập, tu tập, luyện tập nhiều lần tri kiến này; ta tự đạt được tịch chỉ, ta tự đạt được tịnh chỉ". Vị này biết rõ như sau: "Trong khi ta thực tập, tu tập, luyện tập nhiều lần tri kiến này; ta tự đạt được tịch chỉ, ta tự đạt được tịch chỉ". Ðó là trí thứ hai mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Tri kiến như ta đã thành tựu có thể có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào ngoài giáo pháp này, thành tựu tri kiến như vậy không?" Vị ấy hiểu rõ như sau: "Tri kiến như ta đã thành tựu không có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác, ngoài giáo pháp này, thành tựu tri kiến như vậy". Ðó là tri thứ ba mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng.

[Tri kiến quán sát về bản chất tự nhiên của một người có tu tập là phát lộ thành thật về lầm lỗi của mình]
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Pháp tánh (Dhammata) mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, pháp tánh như vậy ta có thành tựu hay không?" Và này các Tỷ-kheo, pháp tánh ấy là gì mà một vị chứng được tri kiến thành tựu? Ðây là pháp tánh, này các Tỷ-kheo, mà một vị chứng được tri kiến thành tựu. Bất cứ giới tội nào vị này vi phạm, giới tội ấy liền được xuất tội. Vị này lập tức phát lộ, tỏ bày, trình bày trước bậc Ðạo Sư hay trước các vị đồng phạm hạnh có trí. Sau khi phát lộ, tỏ bày, trình bày, vị ấy phòng hộ gìn giữ trong tương lai. Này các Tỷ-kheo, ví như một đứa trẻ con, ngây thơ, nằm ngửa, lập tức rút lui tay hay chân nếu tay hay chân của nó chạm phải than đỏ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đây là pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu. Bất cứ giới tội nào vị này vi phạm, giới tội ấy liền được xuất tội. Vị này lập tức phát lộ, tỏ bày, trình bày trước bậc Ðạo Sư hay trước các vị đồng phạm hạnh có trí. Sau khi phát lộ, tỏ bày, trình bày, vị ấy phòng hộ gìn giữ trong tương lai. Vị ấy biết rõ như sau: "Pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, pháp tánh như vậy ta có thành tựu". Như vậy là trí thứ tư mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng.


Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, pháp tánh như vậy ta có thành tựu hay không?" Và này các Tỷ-kheo, pháp tánh ấy là gì mà một vị chứng được tri kiến thành tựu? Ðây là pháp tánh, này các Tỷ-kheo, mà một vị chứng được tri kiến thành tựu. Bất luận sự việc cần phải làm dầu lớn nhỏ gì, giúp cho các vị đồng phạm hạnh; vị này nỗ lực thực hiện, nhưng tha thiết hướng đến tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Này các Tỷ-kheo, ví như con bò có các con bê, khi đang nhổ lùm cỏ lên (ăn), vẫn coi chừng con bê. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đây là pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu. Bất luận sự việc cần phải làm dầu lớn nhỏ gì, giúp cho các vị đồng phạm hạnh; vị này nỗ lực thực hiện, nhưng tha thiết hướng đến tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Vị này biết rõ như sau: "Pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, pháp tánh như vậy ta có thành tựu". Như vậy là trí thứ năm mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng.

[Tri kiến quán sát nội hàm hay khả năng nghe hiểu giáo pháp một cách sâu rộng]
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Sức mạnh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, sức mạnh như vậy ta có thành tựu hay không?" Và này các Tỷ-kheo, sức mạnh ấy là gì mà một vị chứng được tri kiến thành tựu? Ðây là sức mạnh, này các Tỷ-kheo, một vị chứng được tri kiến thành tựu. Trong khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết được giảng dạy, sau khi chú tâm chú ý, chuyên chú toàn tâm trí, vị này lóng tai nghe Pháp. Vị này biết rõ như sau : "Sức mạnh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, sức mạnh như vậy ta có thành tựu". Như vậy là trí thứ sáu mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không có thể cọng chứng.
[Tri kiến quán sát về sự trưởng thành trong giáo pháp qua nghĩa tín thọ và pháp tín thọ]
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Sức mạnh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, sức mạnh như vậy ta có thành tựu hay không?" Và này các Tỷ-kheo, sức mạnh ấy là gì mà một vị chứng được tri kiến thành tựu? Ðây là sức mạnh, này các Tỷ-kheo, mà một vị chứng được tri kiến thành tựu. Trong khi Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết được giảng dạy, vị này chứng được nghĩa tín thọ (atthaveda), Pháp tín thọ (Dhammaveda), và sự hân hoan tương ứng với pháp; vị này hiểu rõ như sau: "Sức mạnh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu, sức mạnh như vậy ta có thành tựu". Như vậy là trí thứ bảy mà vị này chứng được, thuộc các bậc Thánh, siêu thế, các phàm phu không thể cọng chứng.

559. Có gì đặc biệt trong câu kết luận của pháp thoại?”
Một người tu tập có đủ bảy chi phần của tri kiến chân chánh tức là đã nhập vào giòng thánh vức:
Như vậy, này các Tỷ-kheo, pháp tánh được khéo an trú đối với vị Thánh đệ tử thành tựu bảy chi này để chứng được quả Dự Lưu. Như vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu bảy chi này tức là đã thành tựu Dự Lưu quả.


II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành




 III Trắc Nghiệm

Trắc nghiệm  1:Trong bài kinh hôm nay khi nói về những yếu tố sống hoà hợp thì điều nào sau đây được xem là QUAN TRỌNG NHẤT: 
A. Sự lân mẫn /
 B. Sự chia sẻ / 
C. Sự hiểu biết / 
D. Sự đàng hoàng

ĐĐ Pháp Tín cho đáp án trắc nghiệm 1 : C

Trắc nghiệm 2. Câu nào sau đây được xem là đúng theo Phật Pháp? 
A. Người có lỗi và biết mình có lỗi là người đáng quý /
 B. Một người có hiểu biết và có tu tập khi có lỗi luôn biết nhận lỗi và như pháp sám hối / 
C. Bậc thánh tu đà huờn không bao giờ cố tình che dấu những lầm lỗi bản thân /
 D. Cả ba câu trên đều đúng

ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án trắc nghiệm 2: D

Trắc nghiệm 3. Tri kiến nào sau đây không thuộc về bảy tri kiến của bậc thánh được đề cập trong bài kinh nầy:
 A. Kiến thức phổ thông /
 B. Sự hiểu biết về triền cái nội tại của bản thân / 
C. Biết được cái gì là đặc thù của Phật pháp so với ngoại giáo /
 D. Ý thức được trách nhiệm với bạn đồng tu

ĐĐ Pháp Tín cho đáp án trắc nghiệm 3 : A

Trắc nghiệm 4. Câu nào sau đây khi nói về sự hoà hợp, chấm dứt tranh cãi là điều được xem là hợp lý?
 A. Để giải quyết vấn đề chung trước nhất là bắt đầu từ cá nhân / 
B. Cá nhân tốt đẹp y cứ trên sự hiểu biết/
 C. Sự hiểu biết chân chánh dựa trên cơ sở của chân pháp /
 D. Ba câu trên đều đúng

ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án trắc nghiệm 4: D

Trắc nghiệm 5. Lục hoà là sáu pháp được Đức Phật đề cập bằng cụm từ nào sau đây? 
 A.  pháp cần phải ghi nhớ/ 
B. pháp tạo thành tương ái/
 C. pháp đến vô tranh / 
D. Cả ba câu trên đều đúng


ĐĐ Pháp Tín cho đáp án trắc nghiệm 5:D

Trắc nghiệm 6. Câu nào sau đây là sự thật tương đối hợp lý theo suy luận:
 A. Chén trong sóng thường khua chạm /
 B. Tất cả tôn giáo đều có hiện tượng chia rẽ, phân hoá giữa những tín đồ / 
C. Cùng lo một việc thường thương nhau, cùng thích một thứ thường ghét nhau /
 D. Cả ba câu trên


ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án trắc nghiệm 6: D


Saturday, February 1, 2020

Bài học. Thứ Bảy, ngày 1 tháng 2, 2020

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng sư: TT Giác Đẳng
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY  1/2/2020 
47. Kinh Tư sát (Vìmamsaka sutta)

541. Tại sao gọi Kinh Tư Sát ?
Chữ vìmamsaka - bản dịch Việt là tư sát – có nghĩa là người quán sát, người tìm hiểu. Tên bài kinh dựa trên ý chính trong pháp thoại mà Đức Phật dạy những đệ tử nên tìm hiểu thế nào về chính Ngài.
         
542. Đại ý Kinh Tư Sát là gì?
Có một câu trong bài kinh mà cả nguyên văn Pàli và lời dịch tiếng Việt đều có vấn đề cần làm sáng tỏ. Câu Phạn ngữ: vīmaṁsakena, bhikkhave, bhikkhunā parassa cetopariyāyaṁ ajānantena {ājānantena (pī. ka.), ajānantena kinti (?)} tathāgate samannesanā kātabbā ‘sammāsambuddho vā no vā’ iti viññāṇāyā”ti. Bản của Miến Điện, trong cuộc Trùng Tuyên Tam Tạng Lần Thứ VI in là ajānantena trong lúc bản in của Pàli Text Society, y cứ theo bản của Tích Lan thì ghi là ājānantena. Thoạt nhìn hai dị bản có vẻ như giống nhau nhưng ý nghĩa hoàn toàn trái ngược: ājānāti là biết, trong lúc  ajānāti là không biết.

Nếu dịch theo bản của kỳ Trùng Tuyên Tam Tạng lần VI thì nên dịch là: Nầy chư tỳ kheo, một vị tỳ kheo là người (có thái độ khách quan của) người cầu học ( vīmaṁsaka) nhưng không đọc được tâm của người khác nên suy xét về Như Lai có phải là bậc hoàn toàn giác ngộ hay không. (Bản Sớ giải ghi rằng không ai ngoài Đức Phật có thể đọc được tất cả tâm ý của chư Phật toàn giác nên theo bản Miến Điện hợp lý hơn ghi là ajānantena (không biết) thay vì biết.
Bản dịch tiếng Việt:  “Này các Tỷ-kheo, vị tư sát Tỷ-kheo muốn biết rõ tập tánh (Cetapariyayam) của người khác, cần phải tìm hiểu về Như Lai, để ý thức được Ngài có Chánh Ðẳng Giác hay không?” có ý nghĩa rất xa nguyên văn.

Đức Thế Tôn nêu lên chín điểm mà một đệ tử nên suy xét để đặt niềm tin trọn vẹn ở Phật:
2. Những điều bất nhất có thể tìm thấy ở Như Lai qua những gì được thấy được nghe?
3. Sự thanh tịnh tốt đẹp của biểu lộ rõ ràng ở Như Lai qua những gì được thấy, được nghe?
4. Thiện pháp thể hiện ở Như Lai là vốn cố hữu hay nhất thời?
5. Danh lợi có chi phối Đức Như Lai không?
6. Có phải Đức Như Lai sống thanh tịnh vì lo ngại?
8. Như Lai có trả lời thẳng thắng về bản thân mình chăng?
9. Như Lai có truyền dạy giáo pháp chân thiện, thiết thực, rõ ràng, có hiệu năng dẫn đến giác ngộ giải thoát?

543. Thế nào là ý nghĩa của câu: “Đức Như Lai có uế nhiễm hay không qua những gì được thấy và nghe?”
Thấy là quán sát hành vi của thân, nghe là hiểu được ngôn từ qua lời nói của khẩu:

-- Này các Tỷ-kheo, vị tư sát Tỷ-kheo muốn biết rõ tập tánh của người khác, cần phải tìm hiểu về Như Lai trên hai loại pháp: Các pháp do mắt, tai nhận thức, nghĩ rằng: "Những pháp ô nhiễm do mắt, tai nhận thức, những pháp ấy có hiện khởi ở Như Lai hay không hiện khởi?" Sau khi tìm hiểu như vậy, vị Tỷ-kheo được biết như sau: "Những pháp ô nhiễm do mắt, tai nhận thức; những pháp ấy không có hiện khởi ở Như Lai". Sau khi tìm hiểu như vậy và biết được như sau: "Những pháp ô nhiễm do mắt, tai nhận thức; những pháp ấy không có hiện khởi ở Như Lai".
544. Thế nào là ý nghĩa của câu: “Những điều bất nhất có thể tìm thấy ở Như Lai qua những gì được thấy được nghe?
Mệnh đề vı̄timissā dhammā  có nghĩa pháp pha lẫn hay phức cảm có nghĩa là không phải lúc nào của thanh tịnh, tốt đẹp mặc dù có lúc có hành động và lời nói rất cao siêu:
Vị ấy tìm hiểu thêm: "Những tạp pháp (khi nhiễm khi tịnh) do mắt, tai nhận thức; những pháp ấy có hiện khởi ở Như Lai hay không hiện khởi?" Sau khi tìm hiểu như vậy và vị Tỷ-kheo biết được như sau: "Những tạp pháp do mắt, tai nhận thức, những pháp ấy không có hiện khởi ở Như Lai". Sau khi tìm hiểu như vậy và biết được như sau : "Những tạp pháp do mắt, tai nhận thức; những pháp ấy không có hiện khởi ở Như Lai."
545. Thế nào là ý nghĩa của câu: “Sự thanh tịnh tốt đẹp của biểu lộ rõ ràng ở Như Lai qua những gì được thấy, được nghe?”
Điều nầy có nghĩa là qua hành vi và ngôn từ có thể khẳng định rõ là Như Lai thanh tịnh hay không thanh tịnh:
Vị ấy tìm thiểu thêm: "Những pháp hoàn toàn thanh tịnh, do mắt, tai nhận thức; những pháp ấy có hiện khởi ở Như Lai hay không hiện khởi?" Sau khi tìm hiểu như vậy, vị Tỷ-kheo biết được như sau: "Những pháp hoàn toàn thanh tịnh do mắt, tai nhận thức, những pháp ấy có hiện khởi ở Như Lai". Sau khi tìm hiểu như vậy và biết được như sau: "Những pháp hoàn toàn thanh tịnh do mắt, tai nhận thức; những pháp ấy có hiện khởi ở Như Lai".

546. Thế nào là ý nghĩa của câu: “Thiện pháp thể hiện ở Như Lai là vốn cố hữu hay nhất thời?”
Có những người “tốt đột xuất” với hành động và lời nói cao quý nhưng chỉ trong trường hợp nào đó chứ không phải luôn luôn như vậy:
Vị ấy tìm hiểu thêm: "Bậc đáng kính này thành tựu thiện pháp này trong một thời gian lâu dài hay trong một thời gian ngắn?" Sau khi tìm hiểu như vậy, vị Tỷ-kheo biết được như sau: "Vị Tôn giả này thành tựu thiện pháp này trong một thời gian lâu dài, Bậc đáng kính này thành tựu thiện pháp này không phải trong một thời gian ngắn". Sau khi tìm hiểu như vậy và biết được như sau: "Bậc đáng kính này thành tựu thiện pháp này trong một thời gian lâu dài, Bậc đáng kính này thành tựu thiện pháp này không phải trong một thời gian ngắn".

547. Thế nào là ý nghĩa của câu: “Danh lợi có chi phối Đức Như Lai không?”
Có những bậc tu hành rất tốt đẹp khi là một ẩn sĩ như khi được cung kính, lợi đắc nhiều thì xoay chiều hiện ra những bất thiện pháp như giả dối, ngã mạn..:
Vị ấy tìm hiểu thêm: "Bậc đáng kính hữu danh này, khi có danh, một số nguy hiểm có khởi lên cho vị ấy ở đây không?" Này các Tỷ-kheo, một số nguy hiểm không khởi lên ở đây cho vị Tỷ-kheo, khi vị ấy chưa được hữu danh, chưa có danh tiếng. Này các Tỷ-kheo, khi vị ấy được hữu danh, có danh tiếng, thì một số nguy hiểm có thể khởi lên ở đây cho vị ấy. Sau khi tìm hiểu như vậy, vị biết được như sau: "Bậc đáng kính chưa hữu danh này, khi chưa có danh, một số nguy hiểm không khởi lên cho vị ấy". Sau khi tìm hiểu như vậy, vị ấy biết được như sau : "Vị  này, khi có danh, một số nguy hiểm có thể không khởi lên cho vị này."

548. Thế nào là ý nghĩa của câu: “Có phải Đức Như Lai sống thanh tịnh vì lo ngại?”
Có những nhà tu từ bỏ dục lạc không phải vì nhận thức rõ bản chất phù phiếm, nguy hại hay do đoạn tận tham ái chứ không phải vì lo sợ người khác chê trách:
Vị ấy tìm hiểu thêm: "Bậc đáng kính này từ bỏ với sự vô úy, không phải vì sợ hãi mà từ bỏ. Có phải do vì đoạn diệt tham ái, vì không có tham ái, nên vị này không thỏa mãn các dục?". Sau khi tìm hiểu như vậy, vị ấy biết được như sau: "Đức Như Lai do vô úy mà từ bỏ, không phải vì sợ hãi mà từ bỏ. Do vì đoạn diệt tham ái, vì không có tham ái, nên vị này không thỏa mãn các dục".

549. Thế nào là ý nghĩa của câu: Như Lai có thuyết pháp với cung cách cao quý?
Đức Như Lai thuyết pháp vì lợi ích cho chúng sanh dù hội chúng nhiều người hay cho một người; Ngài thuyết pháp không với tâm tâng bốc người nầy hay chà đạp người kia. Sớ giải gọi đó là thái độ vô tư của chư Phật ((tādibhāva):

Này các Tỷ-kheo, nếu có những người khác hỏi vị Tỷ-kheo ấy như sau: "Những dữ kiện Tôn giả là gì, những bằng chứng của Tôn giả là gì, mà Tôn giả nói: "Đức Phật do vô úy mà từ bỏ, không phải vì sợ hãi mà từ bỏ". Do vì đoạn diệt tham ái, vì không có tham ái, nên vị này không thỏa mãn các dục". Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo muốn trả lời một cách chân chánh phải trả lời như sau: "Bậc Đạo sư sống giữa Tăng chúng hay sống một mình, dầu cho những vị sống ở đây là thiện hạnh, là ác hạnh, dầu cho có những vị giáo giới hội chúng, ở đây có những vị chuyên trọng tài vật, có những vị ở đây không bị ô nhiễm bởi tài vật, vị Tôn giả này không vì vậy mà khinh bỉ họ vì lý do này. Như vậy tôi nghe trước mặt Thế Tôn, như vậy tôi được biết trước mặt Thế Tôn: "Ta do vô úy mà từ bỏ, Ta không phải vì sợ hãi mà từ bỏ. Do vì đoạn diệt tham ái, vì không có tham ái nên Ta không thỏa mãn các dục"".

550. Thế nào là ý nghĩa của câu: “Như Lai có trả lời thẳng thắng về bản thân mình chăng?”
Có nhiều người không dám khẳng định về bản thân vì tự xét đức hạnh còn khuyết điểm hay thiếu tự tin. Đó không phải là trường hợp của Đức Phật:

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai cần phải được hỏi thêm như sau: "Các pháp ô nhiễm do mắt, tai nhận thức; những pháp ấy có hiện khởi ở Như Lai hay không có hiện khởi?" Ðược hỏi vậy, Như Lai sẽ trả lời như sau: "Các pháp ô nhiễm do mắt, tai nhận thức; những pháp ấy không hiện khởi ở Như Lai."
Nếu được hỏi: "Những tạp pháp ở mắt, tai nhận thức; những pháp ấy có hiện khởi ở Như Lai hay không có hiện khởi?" Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai sẽ trả lời như sau: "Những tạp pháp do mắt, tai nhận thức, những pháp ấy không có hiện khởi ở Như Lai."
Nếu được hỏi: "Những pháp hoàn toàn thanh tịnh do mắt, tai nhận thức; những pháp ấy có hiện khởi ở Như Lai hay không có hiện khởi?" Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai trả lời như sau: "Những pháp hoàn toàn thanh tịnh do mắt, tai nhận thức; những pháp ấy có hiện khởi ở Như Lai. Ta lấy như vậy làm đạo lộ, làm hành giới. Không có ai giống Ta như vậy. "

551. Thế nào là ý nghĩa của câu: “Như Lai có truyền dạy giáo pháp chân thiện, thiết thực, rõ ràng, có hiệu năng dẫn đến giác ngộ giải thoát?”
Phải nhận chân giá trị cao quý của bậc Đạo sư qua giáo pháp truyền dạy như một người đi vào thành phố được xây dựng nguy nga tráng lệ thì có thể cảm nhận đó phải là một công trình tạo nên bởi một kiến trúc sư thực tài:

Này các Tỷ-kheo, một đệ tử phải đến gần bậc Ðạo Sư có nói như vậy để được nghe pháp. Vị Ðạo Sư thuyết pháp cho vị ấy từ vấn đề này đến vấn đề khác, từ vi diệu này đến vi diệu khác, các pháp hắc bạch cùng với các pháp tương đương (Sappatibhaga). Này các Tỷ-kheo, tùy theo vị Ðạo Sư thuyết pháp cho vị Tỷ-kheo, từ vấn đề này đến vấn đề khác, từ vi diệu này đến vi diệu khác, các pháp hắc bạch cùng với các pháp tương đương; vị Tỷ-kheo, tùy theo như vậy, sau khi chứng tri trong pháp ấy, đạt đến sự cứu cánh của từng pháp một. Vị ấy khởi lòng tịnh tín đối với bậc Ðạo Sư: "Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, chúng Tăng thật khéo hành trì".
Này các Tỷ-kheo, nếu có người khác hỏi Tỷ-kheo ấy như sau: "Tôn giả có những dữ kiện gì, có những bằng chứng gì để Tôn giả nói rằng: "Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, chúng Tăng thật khéo hành trì?"" Này các Tỷ-kheo, muốn trả lời một cách chân chánh, vị Tỷ-kheo phải trả lời như sau: "Ở đây, này Hiền giả, tôi đến yết kiến Thế Tôn để nghe thuyết pháp, Thế Tôn thuyết pháp cho tôi, từ vấn đề này đến vấn đề khác, từ vi diệu này đến vi diệu khác, các pháp hắc bạch với các pháp tương đương của chúng. Này Hiền giả, tùy theo Thế Tôn thuyết pháp cho tôi như thế nào, từ vấn đề này đến vấn đề khác, từ vi diệu này đến vi diệu khác, các pháp hắc bạch với các pháp tương đương của chúng; tùy theo như vậy, sau khi chứng tri trong pháp ấy, tôi đạt đến sự cứu cánh của từng pháp một. Tôi khởi lòng tịnh tín đối với bậc Ðạo Sư: "Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, chúng Tăng thật khéo hành trì"".

552. Đức Phật đã kết luận pháp thoại thế nào?
Chỉ có tìm hiểu rõ về Đức Phật thì một đệ tử mới thành tựu được niềm tin kiên cố:
Này các Tỷ-kheo, đối với ai mà lòng tin đối với Như Lai được an lập, căn cứ, an trú trên những dữ kiện, những văn cú, những văn tự như vậy, này các Tỷ-kheo, lòng tin như vậy được gọi là có dữ kiện đầy đủ, căn cứ trên (chánh) kiến, vững chắc, không thể bị phá hoại bởi một Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên, Ma ra, Phạm thiên hay bất cứ ai ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là sự tìm hiểu về Như Lai, và như vậy Như Lai mới được khéo tìm hiểu một cách đúng pháp.


II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. TT Tuệ Siêu nói về sự dịch thuật Tam Tạng kinh điển và cảm nhận về bài học hôm nay là kinh Tư Sát



 III Trắc Nghiệm