Monday, April 25, 2016

Bài học. Thứ Hai ngày 25-4-2016

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư: TT Giác Đẳng

Chương Một Pháp
XIV. Phẩm Người Tối Thắng

1-16 Các Vị Tỷ Kheo

1. Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, được nghe nhiều, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Ananda.

2. Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta đầy đủ ức niệm, tối thắng là Ananda

3. Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta đầy đủ cử chỉ tốt đẹp tối thắng là Ananda.

4. Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta đầy đủ sự kiên trì tối thắng là Ananda.

5.Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta thị giả, tối thắng là Ananda.

6. Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta có đại hội chúng, tối thắng là Uruvela Kassapa.

7. Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta làm cho các gia đình hoan hỷ, tối thắng là Kàludàyì.

8. Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta không có bệnh hoạn, tối thắng là Bakkula.

9. Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, tối thắng là Sobhita.

10. Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta trì Luật, tối thắng là Upàli.

11. Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta giáo giới Tỷ-kheo-ni, tối thắng là Nandaka.

12. Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta hộ trì các căn môn, tối thắng là Nanda.

13. Trong các vị đệ tử... thiện xảo về hỏa giới, tối thắng là Sàgata.

14. Trong các vị đệ tử... giáo giới Tỷ-kheo, tối thắng là Màhakappina.

15. Trong các vị đệ tử... năng khởi biện tài, tối thắng là Ràdha.

16. Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta mang thô y, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Mogharàjà.


II. Thảo Luận:   TT Giác Đẳng điều hợp.

Thảo luận câu : 1. Tôn giả Ànanda là một vì bằng tuổi với Đức Phật, là một bậc trí thức lại là một thị giả thân cận chăm sóc Đức Phật, điều nầy có ý nghĩa gì đối với chúng ta? TT Tuệ Quyền 

Thảo luận câu :  2. Tôn giả Ànanda nói lên 8 điều kiện trước khi nhận lời làm thị giả Đức Phật phải chăng là "thái độ làm cao"? ĐĐ Nguyên Thông 

Thảo luận câu : 3. Tôn giả Ànanda là một bậc thánh sơ quả (tu đà huờn) đôi khi có những cảm xúc của một vị chưa hoàn toàn giải thoát điều nầy có khiến tốt hơn hay không tốt hơn cho vai trò thị giả? TT Tuệ Siêu 


 III. Trắc Nghim
Trắc nghiệm 1. Qua sự hiểu biết lịch duyệt, tư cách cao nhã, và trí nhớ vô song của tôn giả Ànanda cho chúng ta biết gì về Đức Phật? 
A. Phật là bậc Ứng Cúng không có sở hành khuất lấp
 / B. Phật là bậc tu chứng, toàn tri vì không có lẫn lộn, lầm lẩn 
/ C. Phật là Vô Thượng Điều Ngự với sự giáo hoá tuyệt luân
 / D. Cả ba điều trên đều đúng

ĐĐ Pháp Tín cho đáp án Câu Số 1: D  .

Trắc nghiệm 2. Điều nào sau đây chính xác theo sử liệu? 
A. Tôn giả Ànanda thỉnh cầu Đức Phật không ban cho mình y áo, thực phẩm, chỗ ở của Đức Phật. 
/ B. Nếu thí chủ chỉ thỉnh Đức Phật xin Đức Phật đừng dẫn theo tôn giả Ànanda nhưng ngược lại Đức Phật hoan hỷ nhận lời mời thỉnh nếu thí chủ chỉ mời tôn giả Ananda 
/ C. Tôn giả thỉnh cầu Đức Phật cho phép tiến dẫn những vị khách từ xa về được diện kiến; xin Đức Phật trả lời cho những điều hoài nghi của tôn giả; nhắc lại những bài pháp Đức Phật đã thuyết giảng mà tôn giả không hiện diện để nghe 
/ D. Cả ba câu trên đều đúng

TT Tuệ Siêu cho đáp án  Câu Số 2: D.

Trắc nghiệm 3. Điều nào sau đây có xẩy ra theo Tam Tạng kinh điển? 
A. Tôn giả Ananda từng lo lắng sợ voi điên tấn công Đức Phật
 / B. Tôn giả Ananda từng thỉnh Đức Phật đi nơi khác khi thấy những người "chưởi mướn" mạ lỵ Đức Phật 
/ C. Tôn giả từng nấu cháo khi Đức Phật bệnh và bị  Đức Phật khiển trách vì đó là điều trái với luật 
/ D. Cả ba điều trên đều đúng


TT Tuệ Quyền cho đáp án Câu Số 3: D.

Sunday, April 24, 2016

Bài học. Chủ Nhật ngày 24-4-2016

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư: TT Tuệ Siêu 

Chương Hai Pháp

XII. Phẩm Hy Cầu

1 - 11 Hy Cầu

1.- Tỷ-kheo có tín tâm, này các Tỷ-kheo, nếu hy cầu một cách chơn chánh, sẽ hy cầu như sau: "Mong rằng ta sẽ như Sàriputta và Moggallàna". Ðây là cán cân, này các Tỷ-kheo, đây là đồ đo lường đối với các đệ tử Tỷ-kheo của Ta, tức là Sàriputta và Moggallàna.

2. Tỷ-kheo-ni có tín tâm, này các Tỷ-kheo, nếu hy cầu một cách chơn chánh, sẽ hy cầu như sau: "Mong rằng ta sẽ như Tỷ-kheo-ni Khemà và Uppalavannà". Ðây là cán cân, này các Tỷ-kheo, đây là đồ đo lường đối với các đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta, tức là Tỷ-kheo-ni Khemà và Uppalavannà.

3. Cư sĩ có tín tâm, này các Tỷ-kheo, nếu hy cầu một cách chơn chánh, sẽ hy cầu như sau: "Mong rằng ta sẽ như gia chủ Citta và Hatthaka ở Alavì". Ðây là cán cân, này các Tỷ-kheo, đây là đồ đo lường đối với các đệ tử cư sĩ của Ta, tức là gia chủ Citta và Hatthaka ở Alavì.

4. Nữ cư sĩ có tín tâm, này các Tỷ-kheo, nếu hy cầu một cách chơn chánh, sẽ hy cầu như sau: "Mong rằng ta sẽ như nữ cư sĩ Khujjuttarà và Velukantakiyà, mẹ của Nanda". Ðây là cán cân, này các Tỷ-kheo, đây là đồ đo lường đối với các đệ tử nữ cư sĩ của Ta, tức là nữ cư sĩ Khujjuttarà và Velukantakiyà, mẹ của Nanda.

5. Thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, vụng về, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một vật mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều vô phước. Thế nào là hai? Không suy tư, không thẩm sát, tán thán người không đáng được tán thán, và chỉ trích người xứng đáng được tán thán. Do thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, vụng về, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một vật bị mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều vô phước.

Thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, bậc hiền trí, khôn khéo, bậc Chân nhân, tự mình xử sự không như một vật mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều phước đức. Thế nào là hai? Sau khi suy tư và thẩm sát, tán thán người đáng được tán thán, và chỉ trích người đáng bị chỉ trích. Do thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, bậc hiền trí, khôn khéo, bậc Chân nhân, tự mình xử sự không như một vật mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều phước đức.

6. Thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, vụng về, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một vật mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều vô phước. Thế nào là hai? Không có suy tư, không có thẩm sát, tự cảm thấy tin tưởng đối với những chỗ không đáng tin tưởng, và tự cảm thấy không tin tưởng đối với những chỗ đáng tin tưởng. Do thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, kẻ ngu, vụng về, không phải bậc Chân nhân, tự mình xử sự như một vật mất gốc, bị thương tích, phạm tội, bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều vô phước.

Thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, bậc hiền trí, khôn khéo, là bậc Chân nhân, tự mình xử sự không như một vật mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều phước đức. Thế nào là hai? Sau khi suy tư và thẩm sát, tự cảm thấy không tin tưởng đối với các chỗ không đáng tin tưởng, và tự cảm thấy tin tưởng đối với những chỗ đáng tin tưởng. Do thành tựu hai pháp, này các Tỷ-kheo, bậc hiền trí, khôn khéo, bậc Chân nhân, tự mình xử sự không như một vật mất gốc, không bị thương tích, không phạm tội, không bị kẻ trí quở trách và tạo nên nhiều phước đức.

7. Do tà hạnh đối với hai (hạng người) kẻ ngu, vụng về ... nhiều vô phước. Ðối với hai hạng người nào? Với mẹ và với cha. Do tà hạnh đối với hai (hạng người) này kẻ ngu, vụng về ... nhiều vô phước.

Do chánh hạnh đối với hai (hạng người), bậc hiền trí ... tạo nên nhiều phước đức. Ðối với hai hạng người nào? Với mẹ và với cha. Do chánh hạnh đối với hai (hạng người) này, bậc hiền trí ... tạo nên nhiều phước đức.

8. Do tà hạnh đối với hai (hạng người) kẻ ngu, vụng về ... nhiều vô phước. Ðối với hai hạng người nào? Với Như Lai và với đệ tử của Như Lai. Do tà hạnh đối với hai hạng người này, kẻ ngu, vụng về ... nhiều vô phước.

Do chánh hạnh đối với hai (hạng người), bậc hiền trí ... tạo nên nhiều phước đức. Ðối với hai hạng người nào? Với Như Lai và với đệ tử của Như Lai. Do chánh hạnh đối với hai (hạng người) này, bậc hiền trí ... tạo nên nhiều phước đức.

9. Này các Tỷ-kheo, có hai pháp này. Thế nào là hai? Thanh tịnh tự tâm và không chấp thủ một cái gì ở đời. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp.

10. Này các Tỷ-kheo, có hai pháp này. Thế nào là hai? Phẫn nộ và hiềm hận. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp.

11. Này các Tỷ-kheo, có hai pháp này. Thế nào là hai? Nhiếp phục phẫn nộ và nhiếp phục hiềm hận. Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai pháp.


II. Thảo Luận:   Chư Tăng điều hợp.
1. Làm sao để trở thành một cận sự Nam , cận sự Nữ đúng nghĩa nhất theo đúng giáo pháp ? và đặc tính nào để nhận biết lòng tịnh tín đó ? TT Pháp Tân 


2. Làm sao để duy trì niềm tin nơi Tam Bảo lâu dài và sự tinh tấn không bị thối thất? - ĐĐ Pháp Tín



 III. Trắc Nghim

Saturday, April 23, 2016

Bài học. Thứ Bảy ngày 23-4-2016

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư: TT Pháp Tân 

Chương Bốn Pháp

V. Phẩm Rohitassa

(X) (50) Các Uế Nhiễm

1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn uế nhiễm này của mặt trăng, mặt trời. Do những uế nhiễm này làm ô nhiễm mặt trăng, mặt trời không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng. Thế nào là bốn?

Mây, này các Tỷ-kheo, là uế nhiễm của mặt trăng, mặt trời, do uế nhiễm này làm ô nhiễm mặt trăng, mặt trời không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng. Mù, này các Tỷ-kheo là uế nhiễm của mặt trăng, mặt trời, không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng. Khói và bụi, này các Tỷ-kheo là uế nhiễm của mặt trăng, mặt trời không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng. Ràhu, vua các loài A-tu-la, này các Tỷ-kheo, là uế nhiễm của mặt trăng, mặt trời; do uế nhiễm này làm ô nhiễm, mặt trăng, mặt trời không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.

Này các Tỷ-kheo, có bốn uế nhiễm này của mặt trăng, mặt trời, do những uế nhiễm này làm ô nhiễm, mặt trăng, mặt trời không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.

2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có bốn uế nhiễm này của các Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng. Thế nào là bốn?

Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn uống rượu men, uống rượu nấu, không có từ bỏ rượu men, rượu nấu. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ nhất của Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn, không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.

Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn, hưởng thọ dâm dục, không từ bỏ dâm dục. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ hai của Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn, không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.

Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn chấp nhận vàng và bạc, không từ bỏ nhận lấy vàng và bạc. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ ba của Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn, không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.

Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn sinh sống với tà mạng, không từ bỏ tà mạng. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ tư của các Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.

Này các Tỷ-kheo, có bốn uế nhiễm này của các Sa-môn, Bà-la-môn, do những uế nhiễm này làm ô nhiễm, nên các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.

3.

Có Sa-môn, Phạm chí,
Bị tham sân trói buộc,
Bị vô minh bao phủ,
Loài người ưa sắc đẹp,
Uống rượu men rượu nấu,
Hưởng thụ pháp dâm dục,
Mê hoặc, họ chấp nhận,
Nhận lấy vàng và bạc,
Các Sa-môn, Phạm chí,
Sinh sống theo tà mạng.
Phật, bà con mặt trời
Nói đến uế nhiễm ấy,
Bị ô nhiễm bởi chúng,
Các Sa-môn, Phạm chí,
Không cháy sang, chói sáng,
Ánh sáng bụi ô nhiễm,
Bao phủ bởi tối tăm,
Nô lệ bởi ái dục,
Bị ái kéo, dắt dẫn,
Họ làm đầy dẫy thêm,
Bãi tha ma ghê tởm,
Chúng lại phải tái sanh.


II. Thảo Luận:   TT Giác Đẳng điều hợp.
Thảo luận câu 1:  Phải chăng cụm từ "sa môn bà la môn (samaṇabrāhmaṇānaṃ) chỉ cho tu sĩ? TT Pháp Đăng 


Thảo luận câu 2:  Cụm từ "rượu men rượu nấu" phải chăng chỉ cho rượu ủ và rượu cất? TT Tuệ Siêu 


Thảo luận 3. Cho phép những tu sĩ lập gia đình có giảm thiểu được những sai phạm về tình cảm và nhục dục trong hàng xuất gia? - TT Tuệ Quyền


Thảo luận câu 4:  Vàng bạc (Jàtarùparajata) có bao gồm cả tiền bạc, bất động sản? TT Pháp Đăng 

 III. Trắc Nghim
Trắc nghiệm 1. Trên phương diện ngữ nghĩa câu nào nào sau đây được xem là đúng?
 A. Tu sĩ Bà la môn là tu sĩ do dòng dõi thọ sanh 
/ B. Sa môn là người từ bỏ gia đình sống không gia đình
 / C. "Tà mạng ngoại đạo" chỉ cho những người đi tu ngoại giáo với đời sống phóng túng

 / D. Cả ba câu trên đều đúng

TT Tuệ Siêu cho đáp án câu 1 là D


Trắc nghiệm 2. Lý do nào sau đây khiến cho sự nghiện rượu trở thành "vấn đề lớn" ? 
A. Nghiện rượu tàn phá thể chất 
 B. Nghiện rượu làm tâm trí mê mờ 
/ C. Nghiện rượu khiến đánh mất chủ đích của đời sống 
/ D. Cả ba câu trên đều đúng

ĐĐ Pháp Tín cho đáp án câu 2 là D

Trắc nghiệm 3. Những lý do nào sau đây cho thấy sự cần thiết để một tu sĩ sống độc thân? 
A. Một tu sĩ thật sự sống nhờ vào đàn tín không thể lấy vật cúng dường nuôi vợ con 
/ B. Đời sống tu tập không thích hợp để duy trì nếp sống lứa đôi 
/ C.  Nhục dục là một thứ khát ái (tanha) cản trở lớn cho thiền định
 / D. Cả ba lý do trên

ĐĐ Nguyện Thông cho đáp án câu 3 là D

Friday, April 22, 2016

Bài học. Thứ Sáu ngày 22-4-2016

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư: ĐĐ Pháp Tín 

Chương Bốn Pháp

V. Phẩm Rohitassa

(IX) (49) Tưởng Ðiên Ðảo

1. - Này các Tỷ-kheo, có bốn tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo này. Thế nào là bốn?

Trong vô thường, nghĩ là thường, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo. Trong khổ nghĩ là không khổ, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo. Trong vô ngã, nghĩ là ngã, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo. Trong không thanh tịnh, nghĩ là thanh tịnh, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo.

Này các Tỷ-kheo có bốn tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo này.

2. Này các Tỷ-kheo có bốn tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo này. Thế nào là bốn?

Trong vô thường, nghĩ là vô thường, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo. Trong khổ, nghĩ là khổ, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo. Trong vô ngã, nghĩ là vô ngã, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo.Trong không thanh tịnh nghĩ là không thanh tịnh, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo.

Này các Tỷ-kheo, có bốn tưởng không điên đảo, tâm không điên đảo, kiến không điên đảo này.

3.

Trong vô thường, tưởng thường.
Trong khổ, tưởng là lạc, 
Trong vô ngã, tưởng ngã,
Trong bất tịnh, tưởng tịnh,
Chúng sanh đến tà kiến,
Tâm động, tưởng tà vọng,
Bị ma trói buộc chặt,
Không thoát khỏi ách nạn,
Chúng sanh bị luân chuyển,
Trong sanh tử luân hồi.
Khi chư Phật xuất hiện,
Ở đời chói hào quang,
Tuyên thuyết diệu pháp này,
Ðưa đến khổ lắng dịu.
Nghe pháp, được trí tuệ,
Trở lại được tự tâm,
Thấy vô thường, không thường,
Thấy đau khổ, là khổ,
Thấy tự ngã, không ngã,
Thấy bất tịnh, không tịnh,
Do hành chánh tri kiến,
Vượt qua mọi đau khổ.



II. Thảo Luận:   TT Giác Đẳng điều hợp.
Thảo luận câu 1. Ba thuật ngữ: tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo (saññāvipallāsā cittavipallāsā diṭṭhivipallāsā) mang ý nghĩa khác biệt thế nào, liên hệ nhau ra sao? TT Tuệ Siêu 


 Thảo luận câu 2. Chữ TRONG trong câu Phật ngôn " Trong vô thường, nghĩ là thường. Trong khổ nghĩ là an lạc. Trong vô ngã, nghĩ là hữu ngã. Trong bất tịnh, nghĩ là thanh tịnh (anicce niccanti ; dukkhe sukhanti; anattani attāti ; asubhe subhanti)" hàm nghĩa gì ? TT Pháp Tân 



 III. Trắc Nghim
Trắc nghiệm 1. Câu nào sau đây được xem là chính xác? 
A. Chấp sai y cứ trên sự trãi nghiệm là điên đảo vọng tưởng 
/ B. Chấp sai y cứ trên cái biết của các giác quan là điên đảo nhận thức
 / C. Chấp sai y cứ trên quan niệm là biên kiến điên đảo
 / D. Cả ba câu trên đều đúng

TT Pháp Tân chọn đáp án Câu 1.D

Trắc nghiệm 2. Trong thiền tông Trung Hoa có câu "trực chỉ chân tâm, kiến tánh thành Phật". Nếu nói theo Tam Tạng Pali thì câu nào sau đây thích hợp? 
A. Trực vãng Tây Phương, hoa khai kiến Phật 
/ B. Trực chỉ quán chiếu, kiến tánh thành Phật 
/ C. Cao đăng Phật quốc, hồi quy Ta bà 
/ D.  Trực chỉ niết bàn, đồng chứng a nậu đa la tam miệu tam bồ đề

TT Tuệ Quyền chọn đáp án Câu 2 B.

Trắc nghiệm 3. Hành giả quán chiếu thế nào gọi là "thấy vô thường trong vô thường"?
 A. Tất cả những gì ở thân tâm liên tục thay đổi 
/ B. Không có gì khiến tâm thoả mãn hoàn toàn 
/ C. Tất cả thuộc năm uẩn có tự tánh riêng bị chi phối bởi nhiều nhân, nhiều duyên nên không thể bắt phải theo ý muốn 
/ D. Cái đẹp, cái ngon chỉ là bề ngoài hay giai đoạn 


 ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án Câu 3.A


Thursday, April 21, 2016

Bài học. Thứ Năm ngày 21-4-2016

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư: TT Tuệ Siêu 

Chương Hai Pháp

XI. Phẩm Các Hy Vọng

1-12 Hy Vọng

1.- Có hai hy vọng này, này các Tỷ-kheo, khó được từ bỏ. Thế nào là hai? Hy vọng được lợi dưỡng và hy vọng được sống. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai hy vọng khó được từ bỏ.

2. Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời. Thế nào là hai? Người thi ân trước và người biết nhớ ơn đã làm. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời.

3. Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời. Thế nào là hai? Người thỏa mãn và người làm người khác thỏa mãn. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời.

4. Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó làm cho thỏa mãn. Thế nào là hai? Người cất chứa các lợi dưỡng và người phung phí các lợi dưỡng. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, là hai hạng người khó làm cho thỏa mãn.

5. Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, dễ làm thỏa mãn. Thế nào là hai? Người không cất chứa các lợi dưỡng và người không phung phí các lợi dưỡng. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, là hai hạng người dễ làm thỏa mãn ở đời.

6. Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến tham sanh khởi. Thế nào là hai? Tịnh tướng và không như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai duyên khiến tham sanh khởi.

7. Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến sân sanh khởi. Thế nào là hai? Chướng ngại tướng và không như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai duyên khiến sân sanh khởi.

8. Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến tà kiến sanh khởi. Thế nào là hai? Tiếng nói của người khác và không như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai duyên khiến tà kiến sanh khởi.

9. Có hai duyên này, này các Tỷ-kheo, khiến chánh kiến sanh khởi. Thế nào là hai? Tiếng nói của người khác và không như lý tác ý. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai duyên khiến chánh kiến sanh khởi.

10. Này các Tỷ-kheo, có hai tội phạm . Thế nào là hai? Tội phạm nhẹ và tội phạm nặng. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai tội phạm.

11. Này các Tỷ-kheo, có hai tội phạm. Thế nào là hai? Tội phạm thô trọng và tội phạm không thô trọng. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai tội phạm.

12. Này các Tỷ-kheo, có hai tội phạm. Thế nào là hai? Tội phạm có dư tàn và tội phạm không có dư tàn. Hai pháp này, này các Tỷ-kheo, là hai tội phạm.



II. Thảo Luận:   TT Giác Đẳng điều hợp.
Thảo luận câu : 1. Phải chăng có những học giới mà phần đông thấy là nặng nhưng thực tế thì không nặng bằng những điều luật mà người đời nghĩ là nhẹ? TT Tuệ Siêu 

Thảo luận câu : 2. Sự dị nghị của người đời có ảnh hưởng thế nào đối với giới luật của vị tỳ kheo? ĐĐ Pháp Tín 

Thảo luận câu :  3. Phải chăng sự khác biệt giữa kinh tạng và luật tạng là có những điều không thể tha thứ theo luật trong lúc thì kinh tạng kêu gọi sự bao dung? ĐĐ Nguyên Thông 


Thảo luận câu : 3. Phải chăng sự khác biệt giữa kinh tạng và luật tạng là có những điều không thể tha thứ theo luật trong lúc thì kinh tạng kêu gọi sự bao dung? ĐĐ Pháp Tín 



 III. Trắc Nghiệm
Trắc nghiệm 1. Hành động nào sau đây được xem là sự phạm tội nặng nhất của một vị tỳ kheo?
 A. Tuyên bố rằng mình có khả năng biết được người chết đi sanh về cõi nào
 / B. Giới thiệu cho đôi nam nữ quen biết và đi đến hôn nhân
 / C. Uống rượu 
/ D. Đang nhập hạ lại bỏ đi không có lý do chánh đáng

TT Tuệ Siêu cho đáp án  Câu Số 1: A-B-C-D

Trắc nghiệm 2. Những điều nào sau đây NÊN là điều cần được một tỳ kheo phản tỉnh theo Phật Pháp? 
A. Hành động khiến người đời chê trách tăng chúng 
/ B. Hành động bị chê trách bởi các bậc thiện trí 
/ C. Hành động dẫn tới tự trách 
/ D. Cả ba câu trên


TT Tuệ Quyền cho đáp án Câu Số 2 : D.

Wednesday, April 20, 2016

Bài học. Thứ Tư ngày 20-4-2016

Kinh Tăng Chi B - Anguttara Nikaya

Giảng Sư: TT Pháp Đăng 

Chương Bốn Pháp

V. Phẩm Rohitassa

(VIII) (48) Visàkhà

1. Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Visàkhà Pancàliputta, trong hội trường với pháp thoại, đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, với lời nói lịch sự, thông suốt, không có phều phào với ý nghĩa rõ ràng minh bạch, không có ngập ngừng. Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều từ chỗ thiền tịnh đứng dậy đi đến hội trường, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi xuống, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, ai đang thuyết pháp trong hội trường cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, với lời nói lịch sự, thông suốt, không có phều phào, với ý nghĩa rõ ràng minh bạch, không có ngập ngừng?

- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Visàkhà Pancàliputta đang thuyết pháp trong hội trường cho các Tỷ kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, với lời nói lịch sự, thông suốt, không có phều phào, với ý nghĩa rõ ràng minh bạch, không có ngập ngừng.

Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Visàkhà Panàliputta:

- Lành thay, lành thay này Visàkhà! Lành thay, này Visàkhà, Thầy đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, với lời nói lịch sự, thông suốt, không có phều phào với ý nghĩa rõ ràng minh bạch, không có ngập ngừng.

2.

Nếu vị ấy không nói,
Chúng không biết vị ấy,
Như vậy bậc Hiền trí,
Lẫn lộn với kẻ ngu,
Nếu vị ấy nói lên,
Chúng biết đến vị ấy,
Khi vị ấy thuyết giảng,
Con đường đến bất tử,
Vậy hãy thuyết giảng lên,
Chói sáng chơn diệu pháp,
Hãy dâng cao ngọn cờ,
Ngọn cờ các ẩn sĩ,
Khéo nói là ngọn cờ,
Của các bậc ẩn sĩ,
Và pháp là ngọn cờ,
Của những bậc ẩn sĩ.


II. Thảo Luận:   TT Giác Đẳng điều hợp.

Thảo luận câu :   1. Tại sao sự thuyết pháp mạch lạc, âm thanh rõ ràng là một biểu hiện của sự tôn kính Pháp? ĐĐ Nguyên Thông 

Thảo luận câu :2. Phật Pháp có phủ nhận giá trị của âm thanh, sắc tướng?

Thảo luận câu :  3. Trong kệ ngôn: "Khéo nói là ngọn cờ,/Của các bậc ẩn sĩ,/ Và pháp là ngọn cờ,/ Của những bậc ẩn sĩ" phải chăng ngọn cờ ở đây chỉ cho biểu tượng? ĐĐ Nguyên Thông 


Thảo luận câu :  4. Ngày nay người ta thường nói đến "chấn hưng Phật Pháp" phải chăng nếu nói đúng là "chấn chỉnh sự học và hành trì Phật Pháp"? ĐĐ Pháp Tín 

 III. Trắc Nghim
Trắc nghiệm 1. Thử tìm hiểu ý nghĩa khác biệt của chữ "giới" trong các từ vựng sau đây?
 A. Kiết giới 
 / B.  mười tám giới 
/ C. Tam giới
/ D. Ngũ giới

TT  Giác  Đẳng cho đáp án câu 1 là C

Trắc nghiệm 2. Những điều nào sau đây KHÔNG được Đức Phật khuyên khi đối với một vị thuyết pháp?
 A. Không nên đi quá xa ngôn ngữ địa phương 
/ B. Nên thuyết pháp với tâm từ, tránh lời sân hận
 / C. Nên hoà đồng với tất cả tôn giáo 
/ D. Khi thuyết pháp nên đối chiếu cho đúng với kinh luật

TT Tuệ Quyn cho đáán câu 2 B

Trắc nghiệm 3. Câu nào sau đây được xem là được tìm thấy trong kinh điển? 
A. Đức Phật là bậc Pháp Vương có thể tuỳ theo hoàn cảnh mà nói pháp với nhiều phương tiện khác nhau 
/ B. Đức Phật, dù là bậc Pháp Vương, nhưng khi nói pháp vẫn cẩn thận chứ không phải không cẩn thận 
/ C. Đức Phật tuy nói pháp nhiều nhưng không nói điều gì cả 
/ D. Ba câu trên đều sai


TT Pháp Tân cho đáán câu 3 là B