Friday, February 22, 2019

Bài học. Thứ Sáu ngày 22 tháng 2, 2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng Sư: ĐĐ Pháp Tín
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 22/2/2019 
33. Kinh Phúng tụng (Sangìti sutta)

 
PHÁP BA CHI phần 3.49

lvii) Ba minh: Túc mạng trí minh, Hữu tình sanh tử minh, Lậu tận trí minh.(tisso vijjā — pubbenivāsānussatiñāṇaṁ vijjā, sattānaṁ cutūpapāteñāṇaṁ vijjā, āsavānaṁ khayeñāṇaṁ vijjā).

Thuật ngữ minh – vijja – nghĩa là bừng sáng, sáng tỏ, thấu suốt. Trong tam minh thì chữ minh chỉ cho thánh trí kết hợp cả hai tâm giải thoát và tuệ giải thoát (Tuệ giác đi với định lực tam muội)
Túc mạng minh - pubbenivāsānussatiñāṇaṁ vijjā - khả năng siêu việt nhớ biết nhiều đời quá khứ của bản thân từ danh tánh, tộc tánh, đời sống, hạnh nghiệp …
Hữu tình sanh tử minh - sattānaṁ cutūpapāteñāṇaṁ vijjā – là thắng trí có thể thấy biết tiến trình sanh tử của các chúng sanh, và từ đó, biết được căn cơ trình độ dị biệt của các chủng loại. 
Lậu tận minh - āsavānaṁ khayeñāṇaṁ vijjā – là khả năng chứng đạt và an trú tâm giải thoát và tuệ giải thoát một cách hoàn toàn tự tại. 
Đoạn kinh sau đây trích từ Kinh Dạy Vacchagotta về Tam Minh (Tevijjavacchagotta sutta) - Trung Bộ Kinh giúp chúng ta  thấy rõ hơn  ý nghĩa tam minh của Đức Phật. Nên lưu ý là các bậc thánh vô lậu đệ tử Phật cũng chứng tam minh nhưng không ưu việt như Đức Phật.
Này Vaccha, khi nào Ta muốn, Ta sẽ nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, hai mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp. Ta nhớ rằng: "Tại chỗ kia, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, ăn uống như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây". Như vậy Ta sẽ nhớ đến những đời sống quá khứ, cùng với các nét đại cương và các chi tiết.

Này Vaccha, nếu Ta muốn, với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, Ta thấy sự sống chết của chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Ta nghĩ rằng: "Thật sự những vị chúng sanh này thành tựu những ác hạnh về thân, thành tựu những ác hạnh về lời nói, thành tựu những ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những vị chúng sanh này thành tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, Thiên giới, trên đời này". Như vậy, Ta với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ.
Này Vaccha, với sự đoạn diệt các lậu hoặc, Ta ngay trong hiện tại, tự mình với thượng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

CHÁNH KINH
10. Này các Hiền giả, có ba pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Thế nào là ba pháp?
……………………………..
lvii) Ba minh: Túc mạng trí minh, Hữu tình sanh tử minh, Lậu tận trí minh.(tisso vijjā — pubbenivāsānussatiñāṇaṁ vijjā, sattānaṁ cutūpapāteñāṇaṁ vijjā, āsavānaṁ khayeñāṇaṁ vijjā).



ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1.  Phải chăng tất cả bậc chứng vô sanh tứ quả đều có lậu tận minh? - TT Tuệ Siêu


Thảo luận 2. Đức Phật sau khi thành đạo vẫn thỉnh thoảng sử dụng lậu tận minh như trong câu “Này Vaccha, với sự đoạn diệt các lậu hoặc, Ta ngay trong hiện tại, tự mình với thượng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú, vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát” nên được hiểu thế nào trong sự an trú? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 3. Tại sao đoạn tận phiền não (lậu tận) mà gọi là thần thông (trong lục thông) hay thắng trí (trong tam minh)? - TT Tuệ Siêu



 III Trắc Nghiệm

Trắc nghiệm 1. Thuật ngữ minh - vijja - trong tam minh liên hệ tới điều nào sau đây?
 A. Tâm giải thoát / 
B. Tuệ giải thoát / 
C. Đoạn tận hoàn toàn các kiết sử /
 D. Cả ba câu trên


TT Giác Đẳng cho đáp án trắc nghiệm 1

Thursday, February 21, 2019

Bài học. Thứ Năm ngày 21 tháng 2, 2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng Sư: ĐĐ Huy Niệm
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 21/2/2019 
33. Kinh Phúng tụng (Sangìti sutta)

 
PHÁP BA CHI phần 3.48

lvii) Ba luận sự: Luận bàn về vấn đề quá khứ: "Sự việc này xảy ra trong quá khứ"; luận bàn về vấn đề tương lai: "Sự việc này xảy ra trong tương lai"; luận bàn về vấn đề hiện tại: "Sự việc này xảy ra trong hiện tại"(tīṇi kathāvatthūni — atītaṁ vā addhānaṁ ārabbha kathaṁ katheyya — ‘evaṁ ahosi atītamaddhānan’ti; anāgataṁ vā addhānaṁ ārabbha kathaṁ katheyya — ‘evaṁ bhavissati anāgatamaddhānan’ti; etarahi vā paccuppannaṁ addhānaṁ ārabbha kathaṁ katheyya — ‘evaṁ hoti etarahi paccuppannaṁ addhānan’ti).

Luận sự  -kathāvatthūni — là những đề tài luận đàm. Ở đây chỉ cho phiếm luận vô ích vì thường là vượt tầm hiểu biết chân thực.
Luận bàn về vấn đề quá khứ: "Sự việc này xảy ra trong quá khứ" (atītaṁ vā addhānaṁ ārabbha kathaṁ katheyya) 
luận bàn về vấn đề tương lai: "Sự việc này xảy ra trong tương lai” (anāgataṁ vā addhānaṁ ārabbha kathaṁ katheyya) 
luận bàn về vấn đề hiện tại: "Sự việc này xảy ra trong hiện tại” (etarahi vā paccuppannaṁ addhānaṁ ārabbha kathaṁ katheyya) 
Đoạn kinh sau đây trích từ Kinh Nhất Thiết Lậu Hoặc - Trung Bộ Kinh giúp chúng ta  thấy rõ hơn  ý nghĩa của đề tài luận bàn tam thế.
Này các Tỷ-kheo, và thế nào là các pháp không cần phải tác ý mà vị ấy tác ý? Này các Tỷ-kheo, nghĩa là các pháp do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh được sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được tăng trưởng; hay hữu lậu chưa sanh được sanh khởi, hay hữu lậu đã sanh được tăng trưởng, hay vô minh lậu chưa sanh được sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được tăng trưởng. Những pháp ấy là những pháp không cần phải tác ý mà vị ấy tác ý. Này các Tỷ-kheo, và thế nào là các pháp cần phải tác ý mà vị ấy không tác ý? Này các Tỷ-kheo, nghĩa là các pháp do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh không sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được trừ diệt, hay hữu lậu chưa sanh không sanh khởi, hay hữu lậu đã sanh được trừ diệt, hay vô minh lậu chưa sanh không sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được trừ diệt. Những pháp ấy là những pháp cần phải tác ý mà các vị ấy không tác ý. Do vị ấy tác ý các pháp không nên tác ý, do vị ấy không tác ý các pháp cần phải tác ý, nên các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng.

Vị ấy không như lý tác ý như sau: "Ta có mặt trong thời quá khứ, hay ta không có mặt trong thời quá khứ? Ta có mặt trong thời quá khứ như thế nào? Ta có mặt trong thời quá khứ hình vóc như thế nào? Trước kia ta là gì và ta đã có mặt như thế nào trong thời quá khứ? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai hay ta sẽ không có mặt trong thời vị lai? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai như thế nào? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai, hình vóc như thế nào? Trước kia ta là gì và ta sẽ có mặt như thế nào trong thời vị lai?" Hay nay vị ấy có nghi ngờ về mình trong thời hiện tại: "Ta có mặt hay ta không có mặt? Ta có mặt như thế nào? Ta có mặt hình vóc như thế nào? Chúng sanh này từ đâu đến? Và rồi nó sẽ đi đâu?".

Với người không như lý tác ý như vậy, một trong sáu tà kiến này khởi lên: "Ta có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; "Ta không có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật như chơn; "Do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; "Do tự mình, ta tưởng tri ta không có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn. "Không do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; hay tà kiến này khởi lên với người ấy: "Chính tự ngã của ta nói, cảm giác, hưởng thọ quả báo các nghiệp thiện ác đã làm chỗ này, chỗ kia, chính tự ngã ấy của ta là thường trú, thường hằng, hằng tồn, không chuyển biến, và sẽ vĩnh viễn tồn tại". Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là tà kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược. Này các Tỷ-kheo, trói buộc bởi kiến kiết sử, kẻ phàm phu ít nghe không được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói kẻ ấy không thoát khỏi khổ đau.

Này các Tỷ-kheo, và vị Thánh đệ tử nghe nhiều, được thấy các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh; được thấy các bậc Chơn nhơn, thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, tuệ tri các pháp cần phải tác ý, tuệ tri các pháp không cần phải tác ý. Vị này, nhờ tuệ tri các pháp cần phải tác ý, nhờ tuệ tri các pháp không cần phải tác ý, nên không tác ý các pháp không cần phải tác ý và tác ý các pháp cần phải tác ý.

CHÁNH KINH
10. Này các Hiền giả, có ba pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Thế nào là ba pháp?
……………………………..
lvii) Ba luận sự: Luận bàn về vấn đề quá khứ: "Sự việc này xảy ra trong quá khứ"; luận bàn về vấn đề tương lai: "Sự việc này xảy ra trong tương lai"; luận bàn về vấn đề hiện tại: "Sự việc này xảy ra trong hiện tại"(tīṇi kathāvatthūni — atītaṁ vā addhānaṁ ārabbha kathaṁ katheyya — ‘evaṁ ahosi atītamaddhānan’ti; anāgataṁ vā addhānaṁ ārabbha kathaṁ katheyya — ‘evaṁ bhavissati anāgatamaddhānan’ti; etarahi vā paccuppannaṁ addhānaṁ ārabbha kathaṁ katheyya — ‘evaṁ hoti etarahi paccuppannaṁ addhānan’ti).


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Người Phật tử thường nói về kiếp trước và kiếp sau. Làm thế nào mà những bàn luận đó không rơi vào phiếm luận? - TT Pháp Tân

Thảo luận 2. Đoạn kinh nầy được trích từ kinh Kalama “Vị Thánh đệ tử ấy, này quý vị Kalama, với tâm không oán thù, không ác hại, với tâm thanh tịnh không uế nhiễm như vậy, ngay bây giờ và tại đây, vị ấy đạt được bốn sự an ổn:
 i) "Nếu có đời sau, nếu có kết quả dị thục do các nghiệp thiện ác, sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ sinh vào cõi thiện lành"; đây là an ổn thứ nhất vị ấy có được. 
  ii) "Nếu không có đời sau, nếu không có kết quả dị thục do các nghiệp thiện ác, tại đây và ngay bây giờ, ta vẫn sống tự tại, an lạc, với tâm không oán thù, không ác hại"; đây là an ổn thứ hai vị ấy có được. iii) "Nếu có quả xấu trổ ra cho người làm nghiệp ác, nhưng ta không tác ý làm điều ác hại cho bất cứ ai; do vậy, làm sao quả xấu đó có thể tác động đến ta?”; đây là an ổn thứ ba vị ấy có được.
  iv) "Nếu quả xấu không trổ ra cho người làm nghiệp ác, cũng không tác động gì đến ta, vì tâm ta thanh tịnh và thân ta không làm điều ác”; đây là an ổn thứ tư vị ấy có được.” 
Với Phật ngôn trên thì người con Phật nên có thái độ gì khi nghĩ về kiếp sau?

TT Tuệ Quyền thảo luận 2

Thảo luận 3. Kinh Nhân Quả Ba Đời của Phật giáo Bắc Truyền có câu: Muốn biết nhân đời trước / Xem hưởng quả đời này / Muốn biết quả tương lai/ Xét nhân gieo hiện tại. Câu nầy rất phổ biến đối với Phật tử Việt Nam. Kinh Tạng Pàli có chấp nhận ý nghĩa câu nói đó chăng? Nếu không thì có vấn đề gì? - ĐĐ Nguyên Thông

Thảo luận 4. Tại sao luận sự về quá khứ, vị lai, hiện tại là giáo thuyết nền tảng của hầu hết các tôn giáo? - ĐĐ Huy Niệm

Thảo luận 5. Chúng ta có thể sống hiền thiện, sống an lạc mà không phải bận tâm về tiền kiếp và hậu kiếp? - ĐĐ Pháp Tín

Thảo luận 6. TT Giác Đẳng đúc kết phần thảo luận



 III Trắc Nghiệm

Wednesday, February 20, 2019

Bài học. Thứ Tư ngày 20 tháng 2, 2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng Sư: TT Giác Đẳng
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 20/2/2019 
33. Kinh Phúng tụng (Sangìti sutta)

 
PHÁP BA CHI phần 3.46

lvi) Ba tăng thượng: Ngã tăng thượng, thế tăng thượng, pháp tăng thượng (tīṇi ādhipateyyāni — attādhipateyyaṁ, lokādhipateyyaṁ, dhammādhipateyyaṁ).

Tăng thượng - ādhipateyya – là pháp khiến bản thân tốt hơn, tiến bộ hơn, tinh tấn hơn.
Ngã tăng thượng - attādhipateyyaṁ - tinh tấn dỏng mãnh vì nghĩ đến bản thân.
Thế gian tăng thượng - lokādhipateyyaṁ - tinh tiến nhờ nghĩ tới những tác động từ bên ngoài như sự khen ngợi hay khiển trách từ các bậc thiện tri thức.
Pháp tăng thượng - dhammādhipateyyaṁ - động lực hướng thượng từ nhận thức giá trị của chánh pháp vi diệu.

Đoạn kinh sau đây trích từ Tăng Chi Bộ Kinh giúp chúng ta  thấy rõ hơn  ý nghĩa của đề tài tăng thượng.
40.- Tăng Thượng
1-4
- Này các Tỷ-kheo, có ba tăng thượng này. Thế nào là ba? Ngã tăng thượng, thế giới tăng thượng, pháp tăng thượng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ngã tăng thượng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, quan sát như sau: "Không phải vì y áo, ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Không phải vì món ăn khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì nhân có mặt hay không có mặt ở đây mà ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, (nhưng với ý nghĩ như sau): "Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối. Có thể do làm như vậy, sự đoạn tận tất cả khổ uẩn này được hiện khởi lên (cho ta). Và ta đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đã đoạn tận tất cả các dục vọng như vậy, lại còn đeo đuổi các dục vọng như kia hay còn ác tệ hơn. Như vậy, thật không xứng đáng cho ta".
Vị ấy quan sát như sau: "Thắng tấn là tinh tấn của ta, không có thụ động; an trú là niệm của ta, không có thất niệm; khinh an là thân của ta, không có dao động; định tĩnh là tâm của ta, được nhứt tâm". Vị ấy làm cho tăng thượng tự ngã, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, gìn giữ cho tự ngã được thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tự ngã tăng thượng.
2.- Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là thế giới tăng thượng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, rồi thẩm sát như sau: "Không phải vì y áo, ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Không phải vì món ăn khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì nhân có mặt hay không có mặt ở đây mà ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, (nhưng với ý nghĩ như sau): "Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối. Có thể làm như vậy, đoạn tận của tất cả khổ uẩn này được hiện khởi lên cho ta. Và ta đã xuất gia như vậy, lại có thể suy nghĩ về dục tầm hay có thể suy nghĩ về sân tầm, hay có thể suy nghi về hại tầm. To lớn là đại chúng này sống ở trong đời. Trong đại chúng sống ở đời, có các vị Sa-môn, Bà-la-môn có thần thông, có thiên nhãn, có tha tâm thông. Các vị này có thể thấy từ xa, tuy ở gần nhưng không thể thấy chúng được, và chúng có thể biết tâm ta với tâm của chúng. Chúng biết về ta như sau: "Hãy xem thiện nam tử này, tuy vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhưng sống xen lẫn với các pháp ác, bất thiện". Lại có các chư Thiên có thần thông, có thiên nhãn, có tha tâm thông. Các vị này có thể thấy từ xa, tuy ở gần nhưng không thấy chúng được, và chúng có thể biết tâm ta với tâm của chúng. Các vị ấy có thể biết về ta như sau: "Hãy xem thiện nam tử này, tuy vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhưng sống xen lẫn với các pháp ác, bất thiện."
Vị ấy lại quan sát như sau: "Thắng tấn là tinh tấn của ta, không có thụ động; an trú là niệm của ta, không có thất niệm; khinh an là thân của ta, không có dao động; định tĩnh là tâm của ta, được nhứt tâm". Vị ấy làm cho tăng thượng thế giới, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không có tội, giữ gìn cho tự ngã được thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thế giới tăng thượng.
3.-Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp tăng thượng?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, rồi thẩm sát như sau: "Không phải vì y áo, ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Không phải vì món ăn khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì nhân có mặt hay không có mặt ở đây mà ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, (nhưng với ý nghĩ như sau): "Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối. Có thể do làm như vậy, đoạn tận tất cả các khổ uẩn này được hiện khởi lên cho ta. Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có kết quả ngay tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu. Nay ta có những người đồng Phạm hạnh, chúng sống biết và thấy. Ta đã được xuất gia trong pháp và Luật khéo giảng như vậy, không lẽ ta lại có thể sống biếng nhác phóng dật. Như vậy, thật không xứng đáng cho ta".
Vị ấy lại quán sát như sau: "Thắng tấn là tinh tấn của ta, không có thụ động; an trú là niệm của ta, không có thất niệm; khinh an là thân của ta, không có dao động; định tĩnh là tâm của ta, được nhứt tâm". Vị ấy làm cho tăng thượng pháp, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không tội, giữ gìn cho tự ngã được thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là pháp tăng thượng. Này các Tỷ-kheo, có ba pháp tăng thượng này.
4.
Trên đời không giấu được 
Ác nghiệp tự mình làm
Ngã của ngươi ta biết
Là thật hay là giả
Ngươi thật khinh thiện ngã
Mặt giáp mặt chứng kiến
Muốn che giấu tự ngã
Ðiều ác tự ngã làm
Chư Thiên và Như Lai 
Thấy rõ ở trong đời
Sở hành của kẻ ngu
Làm các hạng tà vạy
Vậy vị ngã tăng thượng
Sở hành phải chánh niệm
Vị thế giới tăng thượng
Hãy khôn khéo, Thiền tịnh
Với vị pháp tăng thượng
Hãy sống theo tùy pháp 
Ðại sĩ không thối thất
Tinh cần theo chân lý
Nhiếp phục được ma quân
Chiến thắng được tử thần
Với tinh cần tinh tấn
Sanh đã được đoạn tận.
Bậc đạo sĩ như vậy, 
Hiểu thế gian diệu chí
Ðối với tất cả pháp
Không có gì xúc phạm
Nguyên văn sớ giải:
lvi) Ba tăng thượng: Ngã tăng thượng, thế tăng thượng, pháp tăng thượng (tīṇi ādhipateyyāni — attādhipateyyaṁ, lokādhipateyyaṁ, dhammādhipateyyaṁ).
CHÁNH KINH
10. Này các Hiền giả, có ba pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Thế nào là ba pháp?
……………………………..
lv) Ba kiêu: Vô bệnh kiêu, niên tráng kiêu, hoạt mạng kiêu (tayo madā — ārogyamado, yobbanamado, jīvitamado).



ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Phải chăng ba khuynh hướng vì mình, vì đời, vì pháp có thể có ở một người nhưng thường thì chỉ một trong ba là khuynh hướng chủ đạo? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 2. Một người nặng khuynh hướng vị ngã có nên tạo phước hay tu tập thêm vì lợi ích bản thân như một lợi điểm hay nên lấy pháp làm trọng để quân bình? ĐĐ Nguyên Thông

Thảo luận 3. TT Giác Đẳng đúc kết phần thảo luận và trắc nghiệm


 III Trắc Nghiệm

Trắc nghiệm 1. Một người thường tổ chức lễ trai tăng vì nghĩ rằng đó là cách tạo nhiều phước lành. Suy nghĩ đó thuộc về khuynh hướng nào sau đây? 
A. Lấy bản thân làm trọng /
 B. Lấy thế gian làm trọng /
 C. Lấy pháp làm trọng / 
D. Ba câu trên đều sai


_ĐĐ Pháp Tín cho đáp án trắc nghiệm 1 : .A

Trắc nghiệm 2. Một người thường tổ chức lễ trai tăng vì nghĩ rằng bố thí là thiện pháp thù thắng có mặt trong tất cả danh sách thiện pháp. Suy nghĩ đó thuộc về khuynh hướng nào sau đây?
 A. Lấy bản thân làm trọng /
 B. Lấy thế gian làm trọng /
 C. Lấy pháp làm trọng /
 D. Ba câu trên đều sai


ĐĐ Pháp Tín cho đáp án trắc nghiệm : .C.


  Trắc nghiệm 3. Một người thường tổ chức lễ trai tăng vì nghĩ rằng những bạn đạo sẽ thân thương với mình vì phước hạnh nầy. Suy nghĩ đó thuộc về khuynh hướng nào sau đây? 
A. Lấy bản thân làm trọng /
 B. Lấy thế gian làm trọng / 
C. Lấy pháp làm trọng / 
D. Ba câu trên đều sai


ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án trắc nghiệm 3: .B .

Tuesday, February 19, 2019

Bài học. Thứ Ba ngày 19 tháng 2, 2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng Sư: TT Tuệ  Siêu
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 19/2/2019 
33. Kinh Phúng tụng (Sangìti sutta)

 
PHÁP BA CHI phần 3.46

lv) Ba kiêu: Vô bệnh kiêu, niên tráng kiêu, hoạt mạng kiêu (tayo madā — ārogyamado, yobbanamado, jīvitamado).

Kiêu – mada- là sự tự phụ, say sưa (như trong cách nói “say men chiến thắng)
Kiêu mạn của vô bệnh – ārogyamado – là sự tự phụ quên mình do khoẻ mạnh nên không thấy mình có lúc bị bệnh như bao người khác.
Kiêu mạn của tuổi trẻ - yobbanamado -– là sự tự phụ quên mình do trẻ trung nên không thấy mình có lúc bị già như bao người khác.
Kiêu mạn của sự sống – jīvitamado - là sự tự phụ quên mình do không thấy rồi mình sẽ chết như bao người khác. 
Đoạn kinh sau đây trích từ Tăng Chi Bộ Kinh ghi lại sự suy tư của Đức Bồ Tát khi còn trong cung đình. Qua đoạn nầy chúng ta có thể thấy rõ thêm ý nghĩa của đề tài kiêu mạn
38.- Ðược Nuôi Dưỡng Tế Nhị
1. - Này các Tỷ-kheo, Ta được nuôi dưỡng tế nhị, tối thắng nuôi dưỡng tế nhị, cứu cánh nuôi dưỡng tế nhị. Này các Tỷ-kheo, trong nhà Phụ vương ta, các hồ nước được xây lên, trong một hồ có hoa sen xanh, trong một hồ có hoa sen đỏ, trong một hồ có hoa sen trắng, tất cả phục vụ cho ta. Không một hương chiên đàn nào ta dùng, này các Tỷ-kheo, là không từ Kàsi đến. Bằng vải Kàsi là khăn của ta, này các Tỷ-kheo. Bằng vải kàsi là áo cánh, bằng vải kàsi là nội y, bằng vải kàsi là thượng y. Ðêm và ngày, một lọng trắng được che cho ta để tránh xúc chạm lạnh, nóng, bụi, cỏ hay xương. Này các Tỷ-kheo, ba lâu đài được xây dựng cho Ta, một cái cho mùa đông, một cái cho mùa hạ, một cái cho mùa mưa. Và Ta, này các Tỷ-kheo, tại lâu đài mùa mưa, trong bốn tháng mưa, được những nữ nhạc công đoanh vây, Ta không có xuống dưới lầu. Trong các nhà của người khác, các người đầy tớ, làm công được cho ăn cơm tấm, cháo chua. Trong nhà phụ vương Ta, các người đầy tớ, làm công được cho ăn gạo, thịt gà và cơm nấu.
2.- Với Ta, này các Tỷ-kheo, được đầy đủ với sự giàu sang như vậy, được cứu cánh nuôi dưỡng tế nhị như vậy, ta suy nghĩ rằng: "Kẻ vô văn phàm phu tự mình bị già, không vượt qua khỏi già, khi thấy người khác bị già, lại bực phiền, hổ thẹn, ghê tởm, quên rằng mình cũng như vậy. Ta cũng bị già, không vượt qua khỏi già, sau khi thấy người khác già, ta có thể bực phiền, hổ thẹn, ghê tởm sao? Như vậy, thật không xứng đáng cho ta". Sau khi quan sát về ta như vậy, này các Tỷ-kheo, sự kiêu mạn của tuổi trẻ trong tuổi trẻ được đoạn trừ hoàn toàn.

"Kẻ vô văn phàm phu tự mình bị bệnh, không vượt khỏi bệnh, thấy người khác bị bệnh, lại bực phiền, hổ thẹn, ghê tởm, quên rằng mình cũng như vậy. Ta cũng bị bệnh, không vượt qua khỏi bệnh, sau khi thấy người khác bị bệnh, ta có thể bực phiền, hổ thẹn, ghê tởm sao? Như vậy, thật không xứng đáng cho ta". Sau khi quan sát về ta như vậy, này các Tỷ-kheo, sự kiêu mạn của không bệnh trong không bệnh được đoạn trừ hoàn toàn.
"Kẻ vô văn phàm phu tự mình bị chết, không vượt khỏi chết, thấy người khác bị chết, lại bực phiền, hổ thẹn, ghê tởm, quên rằng mình cũng như vậy. Ta cũng bị chết, không vượt qua khỏi chết, sau khi thấy người khác chết, ta có thể bực phiền, hổ thẹn, ghê tởm sao? Như vậy, thật không xứng đáng cho ta". Sau khi quan sát về ta như vậy, này các Tỷ-kheo, sự kiêu mạn của sự sống trong sự sống được đoạn trừ hoàn toàn.
Nguyên văn sớ giải:
madāti majjanākāravasena pavattamānā. tesu “ahaṁ nirogo saṭṭhi vā sattati vā vassāni atikkantāni, na me harītakīkhaṇḍampi khāditapubbaṁ, ime panaññe asukaṁ nāma ṭhānaṁ rujjati, bhesajjaṁ khādāmāti vicaranti, ko añño mādiso nirogo nāmā”ti evaṁ mānakaraṇaṁ ārogyamado. “mahallakakāle puññaṁ karissāma, daharamha tāvā”ti yobbane ṭhatvā mānakaraṇaṁ yobbanamado. “ciraṁ jīviṁ, ciraṁ jīvāmi, ciraṁ jīvissāmi; sukhaṁ jīviṁ, sukhaṁ jīvāmi, sukhaṁ jīvissāmī”ti evaṁ mānakaraṇaṁ jīvitamado.
CHÁNH KINH
10. Này các Hiền giả, có ba pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Thế nào là ba pháp?
……………………………..
lv) Ba kiêu: Vô bệnh kiêu, niên tráng kiêu, hoạt mạng kiêu (tayo madā — ārogyamado, yobbanamado, jīvitamado).



ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận. Tại sao ba sự kiêu mạn liên quan tới ác hạnh ? - TT Tuệ Siêu

Thao luan 2. Người trẻ, khõe thấy người già , người bệnh “ tưởng mình ngon “ ý nghĩ đó có phãi là kiêu mạn ? - ĐĐ Nguyên Thông

Thảo luận 3. Già, bệnh, chết là những hiện tượng có tác động mạnh mẽ đối với chư vị bồ tát nhưng tại sao đối với phần đông chúng ta thì không có gì đáng bận tâm? chúng ta không biết hay không muốn nghĩ tới? - TT Tuệ Siêu 


  Thảo luận 4. Tại sao có lúc chúng ta cũng ý thức về thân phận bị già, bệnh, chết chi phối nhưng ý thức đó nhanh chóng vụt tắt không tồn tại lâu? - ĐĐ Nguyên Thông

Thảo luận 5. TT Giác Đẳng đúc kết phần thảo luận 



 III Trắc Nghiệm

Monday, February 18, 2019

Bài học. Thứ Hai ngày 18 tháng 2, 2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng Sư: TT Giác Đẳng
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 18/2/2019 
33. Kinh Phúng tụng (Sangìti sutta)

 
PHÁP BA CHI phần 3.45

Ba thiện xảo: Tăng ích thiện xảo, tổn ích thiện xảo, phương tiện thiện xảo.(tīṇi kosallāni — āyakosallaṁ, apāyakosallaṁ, upāyakosallaṁ).

Thiện xảo - kosallāni – là sự khéo léo, khôn ngoan
Tăng ích thiện xảo- āyakosallaṁ - là sự khôn khéo phát triển hay gia tăng lợi nhuận.
Tổn ích thiện xảo - apāyakosallaṁ - là sự khôn khéo trước đà suy giảm hay khả năng giảm thiểu tác hại trong tình trạng bất lợi.
Phương tiện thiện xảo - upāyakosallaṁ - là sự khéo léo thích nghi mang tánh chiến lược và chiến thuật.
Ba thiện xảo nầy đề cập đến ba phương diện: phát triển, duy trì và thích nghi được Đức Phật giảng giải trong nhiều bối cảnh khác nhau. Đặc biệt trong kinh Giáo Giới Cho Thi Ca La thì nhấn mạnh đời sống của người cư sĩ. Dù vậy ngay cả với người xuất gia thì ba thiện xảo nầy cũng quan trọng.
Phật giáo Đại Thừa xem “phương tiện thiện xảo” hay huyền xảo là một trong những cơ sở hành hoạt quan trọng như được đề cập trong Phẩm Phương Tiện của Kinh Pháp Hoa. Quan niệm phương tiện thiện xảo cũng tạo nên ngã rẽ quan trọng trong lịch sử Phật giáo.
Nguyên văn sớ giải:
kosallesu āyoti vuḍḍhi. apāyoti avuḍḍhi. tassa tassa kāraṇaṁ upāyo. tesaṁ pajānanā kosallaṁ. vitthāro pana vibhaṅge vuttoyeva.
CHÁNH KINH
10. Này các Hiền giả, có ba pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Thế nào là ba pháp?
……………………………..
Ba thiện xảo: Tăng ích thiện xảo, tổn ích thiện xảo, phương tiện thiện xảo.(tīṇi kosallāni — āyakosallaṁ, apāyakosallaṁ, upāyakosallaṁ).



ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Một người tu Phật đúng nghĩa nên sống bình thản (như câu bình thường tâm thị đạo) hay nên có chủ tâm phát triển cuộc sống? - ĐĐ Nguyên Thông

Thảo luận 2. Nên chấp nhận hay nên chống đối số mệnh? Và chúng ta có biết số mệnh của sao chăng? - ĐĐ Nguyên Thông



  Thảo luận 3. Câu nói “cứu cánh biện minh cho phương tiện” được người Phật tử nhận định thế nào? - ĐĐ Nguyên Thông



 III Trắc Nghiệm

Trắc nghiệm 1. Điều nào sau đây được tìm thấy trong kho tàng kinh điển Phật pháp? 
A. Người cư sĩ khéo léo tạo nên sản nghiệp giàu có bằng phương cách lương thiện là điều đáng tán thán/
 B. Một hành giả tu tập nên biết tiếp tục đi tới trong hành trình tu tập cho đến khi đạt tới cứu cánh như người đi tìm lõi cây/ 
C. Với thân sanh tử huyễn hoá nầy người có trí biết tận dụng để làm những thiện sự /
 D. Cả ba câu trên đều có đề cập trong Tam Tạng

TT Pháp Tân cho đáp án trắc nghiệm 1: D

Trắc nghiệm 2. Câu nào sau đây có thể gọi là chính xác theo Phật học? 
A. Tất cả thành công hay thất bại đều do tiền định hay nghiệp quá khứ /
 B. Ý chí quyết định tất cả. Người có hùng tâm có thể vượt trùng dương /
 C. Thành công hay hạnh phúc có thể do quá khứ mà cũng có thể do nỗ lực hiện tại (như câu “Có trời mà cũng tại ta”)/
 D. Trời cho gì thì hưởng nấy


TT Pháp Tân cho đáp án trắc nghiệm 2: C

Trắc nghiệm 3. Chúng ta có nên chấp nhận phương tiện giả lập nếu có công năng khiến bá tánh đi chùa lạy Phật? 
A. Rất nên. Thí dụ dù là mê tín nhưng khiến người ta đi chùa là tốt rồi /
 B. Bánh vẽ mãi mãi là bánh vẽ /
 C. Những gì có công năng dẫn đến giác ngộ giải thoát phải tương ưng với sự thật /
 D. Thuốc giả (placebo) cũng có tác dụng.


 TT Pháp Tân cho đáp án trắc nghiệm 3 : C 


Sunday, February 17, 2019

Bài học. Chủ Nhật ngày 17 tháng 2, 2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng Sư: TT Tuệ Siêu
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 17/2/2019 
33. Kinh Phúng tụng (Sangìti sutta)

 
PHÁP BA CHI phần 3.44

liii) Ba tịch mặc: Thân tịch mặc, ngữ tịch mặc, ý tịch mặc (tīṇi moneyyāni — kāyamoneyyaṁ, vacīmoneyyaṁ, manomoneyyaṁ).

Tịch mặc – moneyya - chỉ cho phong thái của bậc mâu ni ẩn sĩ.
Thân tịch mặc - kāyasoceyyaṁ - là thân không làm ác như thường tình… 
Khẩu tịch mặc - vacīsoceyyaṁ - là miệng không nói lời vọng động như người trong tục luỵ..
Ý tịch mặc - manosoceyyaṁ - là ý yên lặng nhưng thâm sâu…
Sống minh triết là hình ảnh của bậc hiền trí giữa cuộc đời. Đó là cuộc sống vô hại, an lạc và tam nghiệp thanh tịnh
Nguyên văn sớ giải:
moneyyānīti munibhāvakarā moneyyappaṭipadā dhammā. tesaṁ vitthāro “tattha katamaṁ kāyamoneyyaṁ? tividhakāyaduccaritassa pahānaṁ kāyamoneyyaṁ, tividhaṁ kāyasucaritaṁ kāyamoneyyaṁ, kāyārammaṇe ñāṇaṁ kāyamoneyyaṁ, kāyapariññā kāyamoneyyaṁ, kāyapariññāsahagato maggo kāyamoneyyaṁ, kāyasmiṁ chandarāgappahānaṁ kāyamoneyyaṁ, kāyasaṅkhāranirodhā catutthajjhānasamāpatti kāyamoneyyaṁ. tattha katamaṁ vacīmoneyyaṁ? catubbidhavacīduccaritassa pahānaṁ vacīmoneyyaṁ, catubbidhaṁ vacīsucaritaṁ vacīmoneyyaṁ, vācārammaṇe ñāṇaṁ vacīmoneyyaṁ vācāpariññā vacīmoneyyaṁ pariññāsahagato maggo, vācāya chandarāgappahānaṁ, vacīsaṅkhāranirodhā dutiyajjhānasamāpatti vacīmoneyyaṁ. tattha katamaṁ manomoneyyaṁ? tividhamanoduccaritassa pahānaṁ manomoneyyaṁ P.3.1005, tividhaṁ manosucaritaṁ manomoneyyaṁ, manārammaṇe ñāṇaṁ manomoneyyaṁ, manopariññā manomoneyyaṁ. pariññāsahagato maggo, manasmiṁ chandarāgappahānaṁ M.3.187, cittasaṅkhāranirodhā saññāvedayitanirodhasamāpatti manomoneyyan”ti
CHÁNH KINH
10. Này các Hiền giả, có ba pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Thế nào là ba pháp?
……………………………..
liii) Ba tịch mặc: Thân tịch mặc, ngữ tịch mặc, ý tịch mặc (tīṇi moneyyāni — kāyamoneyyaṁ, vacīmoneyyaṁ, manomoneyyaṁ).



ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành



 III Trắc Nghiệm