Tuesday, April 23, 2019

Bài học. Thứ Tư ngày 24 tháng 4, 2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng Sư: TT Giác Đẳng
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 24/4/2019 
33. Kinh Phúng tụng (Sangìti sutta)

 
PHÁP NĂM CHI phần 5.12

Xiii) Năm điều nguy hiểm của người ác giới, phạm giới: Này các Hiền giả, người ác giới, vì phạm giới luật, do phóng dật thiệt hại nhiều tài sản. Ðó là điều nguy hiểm thứ nhất của người ác giới, phạm ác giới. Lại nữa, này các Hiền giả, với người ác giới, phạm ác giới, tiếng xấu đồn khắp. Ðó là điều nguy hiểm thứ hai của người ác giới, phạm ác giới. Lại nữa, này các Hiền giả, với người ác giới, phạm ác giới, khi vào hội chúng nào, hội chúng Sát đế ly, hội chúng Bà la môn, hội chúng Cư sĩ hay hội chúng Sa môn, người ấy vào một cách sợ sệt và dao động. Ðó là điều nguy hiểm thứ ba của người ác giới, phạm ác giới. Lại nữa, này các Hiền giả, người ác giới, phạm ác giới, khi mệnh chung, chết một cách mê loạn. Ðó là điều nguy hiểm thứ tư của người ác giới, phạm ác giới. Lại nữa, này các Hiền giả, người ác giới, phạm ác giới, khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ðó là điều nguy hiểm thứ năm của người ác giới, phạm ác giới (pañca ādīnavā dussīlassa sīlavipattiyā. idhāvuso , dussīlo sīlavipanno pamādādhikaraṇaṁ mahatiṁ bhogajāniṁ nigacchati, ayaṁ paṭhamo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā. puna caparaṁ, āvuso, dussīlassa sīlavipannassa pāpako kittisaddo abbhuggacchati, ayaṁ dutiyo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā. puna caparaṁ, āvuso, dussīlo sīlavipanno yaññadeva parisaṁ upasaṅkamati yadi khattiyaparisaṁ yadi brāhmaṇaparisaṁ yadi gahapatiparisaṁ yadi samaṇaparisaṁ, avisārado upasaṅkamati maṅkubhūto, ayaṁ tatiyo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā. puna caparaṁ, āvuso, dussīlo sīlavipanno sammūḷho kālaṁ karoti, ayaṁ catuttho ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā. puna caparaṁ, āvuso, dussīlo sīlavipanno kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati, ayaṁ pañcamo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā).
Xiv) Năm điều lợi ích của người đủ giới, giữ giới: Này các Hiền giả, ở đây người đủ giới, giữ giới, nhờ không phóng dật nên được tài sản sung túc. Ðó là điều lợi ích thứ nhất cho người đủ giới, giữ giới. Này các Hiền giả, lại nữa người đủ giới, giữ giới được tiếng tốt đồn khắp. Ðó là điều lợi ích thứ hai cho người đủ giới, giữ giới. Này các Hiền giả, với người đủ giới, giữ giới, khi vào hội chúng nào, hội chúng Sát đế ly, hội chúng Ba la môn, hội chúng Cư sĩ, hội chúng Sa môn, vị ấy vào một cách đàng hoàng, không dao động. Ðó là điều lợi ích thứ ba cho người đủ giới, giữ giới. Này các Hiền giả, lại nữa người đủ giới, giữ giới khi mệnh chung chết một cách không mê loạn. Ðó là điều lợi ích thứ tư cho người đủ giới, giữ giới. Này các Hiền giả, lại nữa người đủ giới, giữ giới, sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Như vậy là điều lợi ích thứ năm cho người đủ giới, giữ giới (pañca ānisaṁsā sīlavato sīlasampadāya. idhāvuso, sīlavā sīlasampanno appamādādhikaraṇaṁ mahantaṁ bhogakkhandhaṁ adhigacchati, ayaṁ paṭhamo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya. puna caparaṁ, āvuso, sīlavato sīlasampannassa kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchati, ayaṁ dutiyo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya. puna caparaṁ, āvuso, sīlavā sīlasampanno yaññadeva parisaṁ upasaṅkamati yadi khattiyaparisaṁ yadi brāhmaṇaparisaṁ yadi gahapatiparisaṁ yadi samaṇaparisaṁ, visārado upasaṅkamati amaṅkubhūto, ayaṁ tatiyo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya. puna caparaṁ, āvuso, sīlavā sīlasampanno asammūḷho kālaṁ karoti, ayaṁ catuttho ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya. puna caparaṁ, āvuso, sīlavā sīlasampanno kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati, ayaṁ pañcamo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya).

Đoạn kinh sau đây trích từ Tăng Chi Bộ, phẩm năm pháp, dạy về đề tài nầy với phân đoạn rõ ràng hơn trong từng chi pháp:
(III) (213) Ác Giới
—Này các Tỷ-kheo, có năm sự nguy hại này cho kẻ ác giới, phá giới. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ ác giới, phá giới, do nhân phóng dật, bị tổn thất tài sản lớn. Này các Tỷ-kheo, đây là sự nguy hại thứ nhất cho kẻ ác giới, phá giới.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với kẻ ác giới, phá giới, tiếng ác đồn xa. Này các Tỷ-kheo, đây là sự nguy hại thứ hai cho kẻ ác giới, phá giới.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, kẻ ác giới, phá giới, khi đến hội chúng nào, hoặc hội chúng Sát-đế-ly, hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng Gia chủ, hoặc hội chúng Sa-môn, vị ấy đi đến hội chúng ấy, có sợ hãi, có hoang mang. Này các Tỷ-kheo, đây là sự nguy hại thứ ba cho kẻ ác giới, phá giới.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, kẻ ác giới, phá giới, khi mạng chung, tâm bị mê loạn. Này các Tỷ-kheo, đây là sự nguy hại thứ tư cho kẻ ác giới, phá giới.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, kẻ ác giới, phá giới sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Tỷ-kheo, đây là sự nguy hại thứ năm cho kẻ ác giới, phá giới.
Này các Tỷ-kheo, có năm sự nguy hại này cho kẻ ác giới, phá giới.
Này các Tỷ-kheo, có năm lợi ích cho vị có giới, đầy đủ giới. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, người giữ giới, đầy đủ giới, do nhân không phóng dật, thâu được tài sản lớn. Này các Tỷ-kheo, đây là lợi ích thứ nhất cho vị giữ giới, đầy đủ giới.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, với người giữ giới, đầy đủ giới, tiếng lành đồn xa. Này các Tỷ-kheo, đây là lợi ích thứ hai cho kẻ giữ giới, đầy đủ giới.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người giữ giới, đầy đủ giới, có đi đến hội chúng nào, hoặc hội chúng Sát-đế-ly, hoặc hội chúng Bà-la-môn, hoặc hội chúng Gia chủ, hoặc hội chúng Sa-môn, vị ấy đi đến hội chúng ấy không sợ hãi, không hoang mang. Này các Tỷ-kheo, đây là sự lợi ích thứ ba cho người giữ giới, đầy đủ giới.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người giữ giới, đầy đủ giới, khi mạng chung, tâm không bị mê loạn. Này các Tỷ-kheo, đây là sự lợi ích thứ tư cho người giữ giới, đầy đủ giới.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người giữ giới, đầy đủ giới khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi lành, Thiên giới, cõi đời này. Này các Tỷ-kheo, đây là sự lợi ích thứ năm cho người giữ giới, đầy đủ giới.
Này các Tỷ-kheo, có năm sự lợi ích này cho vị giữ giới, đầy đủ giới.



ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Trong năm lợi lac của người có giới (và năm bất hạnh của người không có giới) thì điều nào là quả dị thục? - TT Tuệ Siêu


Thảo luận 2. Một người không sát sanh, không trộm cắp …. Nhưng không thọ giới theo nghi thức thì có gọi là giữ giới chăng? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 3. Nếu trong năm giới chỉ giữ hai hoặc ba giới (thí dụ giữ giới không sát sanh nhưng vẫn nói dối) thì có thể gọi là có giữ giới chăng? - TT Tuệ Siêu

 Thảo luận 4. Nhiều người quan niệm rằng thọ giới tạo nên mặc cảm khi không giữ trong sạch được. Do vậy tốt hơn là đừng thọ giới để không phải trì giới? - TT Tuệ Siêu


Thảo luận 5. Một người nhiều năm trong đời sát sanh (như làm nghề đánh cá) rồi những năm cuối đời phát tâm giữ ngũ giới thì có được những lợi lạc như đề cập trong bài kinh? - TT Pháp Tân



 III Trắc Nghiệm

Trắc nghiệm 1. Nhờ giữ giới, do nhân không phóng dật, thâu hoạch được tài sản lớn thì điều nầy nằm trong câu nào sau đây?
 A. Quả báo dị thục /
 B. Tác động xã hội / 
C. Ảnh hưởng tâm lý /
 D. Lợi thế của đời sống kỷ cương

TT Tuệ Quyền cho đáp án trắc nghiệm 1 : .D

Trắc nghiệm 2. Do giới hạnh một người luôn vững lòng khi đối diện với đám đông thì điều nầy nằm trong câu nào sau đây?
 A. Quả báo dị thục / 
B. Tác động xã hội /
 C. Ảnh hưởng tâm lý / 
D. Lợi thế của đời sống kỷ cương


ĐĐ Pháp Tín cho đáp án trắc nghiệm 2: A

TT Giác Đẳng cho đáp án trắc nghiệm 2: C

Trắc nghiệm  3. Do giới hạnh một người đối diện với cái chết trong giờ phút lâm chung với tâm an nhiên thì điều nầy nằm trong câu nào sau đây?
 A. Quả báo dị thục / 
B. Tác động xã hội / 
C. Ảnh hưởng của thường thân y duyên (thường nghiệp tốt) /
 D. Lợi thế của đời sống kỷ cương

ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án trắc nghiệm 3 : .A.
TT Giác Đẳng cho đáp án trắc nghiệm 3 : .C .

 Trắc nghiệm 4. Nhờ giữ giới sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi an lạc thì điều nầy nằm trong câu nào sau đây?
 A. Quả báo dị thục / 
B. Tác động xã hội /
 C. Ảnh hưởng tâm lý / 
D. Lợi thế của đời sống kỷ cương


TT Tuệ Quyền cho đáp án trắc nghiệm 4: D
TT Giác Đẳng cho đáp án  trắc nghiệm 4 : A


Bài học. Thứ Ba ngày 23-4-2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng Sư: TT Tuệ Quyền
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 23/4/2019 
33. Kinh Phúng tụng (Sangìti sutta)

 
PHÁP NĂM CHI phần 5.11

Xi) Năm sự tổn thất: Thân thuộc tổn thất, tài sản tổn thất, tật bệnh tổn thất, giới tổn thất, kiến tổn thất. Này các Hiền giả, không có loài hữu tình nào, vì thân thuộc tổn thất, vì tài sản tổn thất, hay vì tật bệnh tổn thất, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Hiền giả, có loài hữu tình, vì giới tổn thất hay vì kiến tổn thất, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục (pañca byasanāni — ñātibyasanaṁ, bhogabyasanaṁ, rogabyasanaṁ, sīlabyasanaṁ, diṭṭhibyasanaṁ. nāvuso, sattā ñātibyasanahetu vā bhogabyasanahetu vā rogabyasanahetu vā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjanti. sīlabyasanahetu vā, āvuso, sattā diṭṭhibyasanahetu vā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjanti).
Xii) Năm sự thành tựu: Thân thuộc thành tựu, tài sản thành tựu, vô bệnh thành tựu, giới thành tựu, kiến thành tựu. Này các Hiền giả, không có loài hữu tình nào, vì thân thuộc thành tựu, vì tài sản thành tựu hay vì vô bệnh thành tựu, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, đời này. Này các Hiền giả, có các loài hữu tình, vì giới thành tựu hay vì kiến thành tựu, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, đời này (  pañca sampadā — ñātisampadā, bhogasampadā, ārogyasampadā, sīlasampadā, diṭṭhisampadā. nāvuso, sattā ñātisampadāhetu vā bhogasampadāhetu vā ārogyasampadāhetu vā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjanti. sīlasampadāhetu vā, āvuso, sattā diṭṭhisampadāhetu vā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjanti).

Đoạn kinh sau đây trích từ Tăng Chi Bộ, phẩm năm pháp, dạy về đề tài nầy:
(X) (130) Thành Tựu
—Này các Tỷ-kheo, có năm điều tổn thất này. Thế nào là năm?

Tổn thất bà con, tổn thất tài sản, tổn thất tật bệnh, tổn thất giới, tổn thất tri kiến. Này các Tỷ-kheo, không do nhân tổn thất bà con, hay không do nhân tổn thất tài sản, hay không do nhân tổn thất bệnh hoạn mà các loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Tỷ-kheo, chính do nhân tổn thất giới, hay tổn thất tri kiến mà các loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cõi dữ, ác thú, địa ngục. Này các Tỷ-kheo, có năm tổn thất này.

Này các Tỷ-kheo, có năm thành tựu này. Thế nào là năm?

Thành tựu bà con, thành tựu tài sản, thành tựu vô bệnh, thành tựu giới, thành tựu tri kiến. Này các Tỷ-kheo, không do nhân thành tựu bà con, hay không do nhân thành tựu tài sản, hay không do nhân thành tựu vô bệnh, mà các loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung sanh được lên cõi lành, Thiên giới, cõi đời này. Này các Tỷ-kheo, do nhân thành tựu giới hay do nhân thành tựu tri kiến, mà các loài hữu tình sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên cõi lành, Thiên giới, cõi đời này.
Này các Tỷ-kheo, có năm thành tựu này.
_________________________________________________
Một đoạn kinh khác cũng trích từ Tăng Chi Bộ, phẩm một pháp có liên hệ đề tài trên:
6. Ít có giá trị, này các Tỷ-kheo, là những mất mát này, như mất mát bà con. Cái này là khốn cùng giữa các mất mát, này các Tỷ-kheo, tức là mất mát trí tuệ.
7. Ít có giá trị, này các Tỷ-kheo, là những tăng trưởng này, như tăng trưởng bà con. Cái này là tối thượng giữa các tăng trưởng, này các Tỷ-kheo, tức là tăng trưởng trí tuệ.
8. Ít có giá trị, này các Tỷ-kheo, là những mất mát này, như mất mát tài sản. Cái này là khốn cùng giữa các mất mát, này các Tỷ-kheo, tức là mất mát trí tuệ.
9. Ít có giá trị, này các Tỷ-kheo, là những tăng trưởng này, như tăng trưởng tài sản, Cái này là tối thượng giữa các tăng trưởng, này các Tỷ-kheo, tức là tăng trưởng trí tuệ.
10. Ít có giá trị, này các Tỷ-kheo, là những mất mát này, như mất mát danh tiếng. Cái này là khốn cùng giữa các mất mát, này các Tỷ-kheo, tức là mất mát trí tuệ.
11. Ít có giá trị, này các Tỷ-kheo, là những mất mát này, như tăng trưởng danh tiếng. Cái này là tối thượng giữa các tăng trưởng, này các Tỷ-kheo, tức là tăng trưởng trí tuệ.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau: "Chúng ta sẽ làm tăng trưởng sự tăng trưởng trí tuệ". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Đặt lại quan niệm trọng khinh đối với những đặng, thất có ý nghĩa gì đối với cuộc sống? ĐĐ Nguyên Thông

Thảo luận 2. Quan niệm trọng khinh đối với mất mát hay thành tựu ở đây đối với hàng xuất gia hay kể luôn hàng cư sĩ?  - TT Pháp Tân

Thảo luận 4. Cái gì là chuẩn mực để nói cái nẩy trọng, cái kia không quan trọng lắm? - TT Tuệ Siêu


Thảo luận 5. Đặt lại quan niệm trọng khinh đối với đặng thất ở đây có phải là một cách dùng lý trí áp đảo cảm xúc? - TT Tuệ Siêu


 III Trắc Nghiệm

Trắc nghiệm 1. Qua nội dung của bài kinh hôm nay câu nào sau đây là bài học được tìm thấy? 
A. Quyến thuộc và tài sản chẳng có gì quan trọng / 
B. Ngũ uẩn giai không nên chẳng có gì đáng quan tâm /
 C. Có những mất mát và thành tựu trong cuộc đời nhưng có những mất mát đưa chúng sanh vào ác đạo, có những thành tựu dẫn đến thiên giới / 
D. Người tu chỉ nên đặt nặng những gì liên quan tới bản thân.


TT Pháp Tân cho đáp án trắc nghiệm 1: C

Trắc nghiệm 2. Người xuất gia nên đặt biệt quan tâm điều nào sau đây theo lời Phật dạy? 
A. Chùa chiền /
B. Đàn tín / 
C. Giới hạnh và trí tuệ /
D. Danh tiếng


TT Pháp Tân cho đáp án trắc nghiệm 2: C


Trắc nghiệm 3. Một ông bà la môn đi tìm con trâu bị mất. Gặp Phật bên đường chỉ hỏi có thấy con trâu đi ngang? Đức Phật hỏi lại đi tìm con trâu và tìm chính mình cái nào quan trọng hơn. Vị bà la môn tỏ ngộ xuất gia đầu Phật. Câu chuyện nầy nói lên sự thay đổi cái nhìn nào sau đây? 
A. Mất mát tài sản là nhỏ so với mất mát trí tuệ / 
B. Tìm được tài sản là thành tựu nhỏ so với thành tựu trí tuệ / 
C. Cả hai câu trên đều đúng / 
D. Cả hai câu A và B đều sai

Trắc nghiệm 4. Ngài Cakkhupàla hành trì pháp đầu đà không nằm nên đôi mắt bị bệnh có thể mù loà. Dù được y sĩ khuyên nên chấm dứt sự tu tập đầu đà nhưng Ngài vẫn quyết tâm nỗ lực thành tựu pháp nhãn dù bị thương tổn nhục nhãn. Cái nhìn đó có thể tương thích với điều nào sau đây? 
A. Quan niệm mất mát quyến thuộc là nhỏ so với mất mát trí tuệ / 
B. Quan niệm mất mát danh tiếng là nhỏ so với mất mát trí tuệ / 
C. Quan niệm mất mát thể lực là nhỏ so với mất mát trí tuệ /
 D. Quan niệm mất mát danh vọng là nhỏ so với mất mát trí tuệ

  Trắc nghiệm 5. Ngài Kumàra Kassapa nghiêm nghị nhắc nhỡ mẹ, là một tỳ kheo ni, nên dứt bỏ sự yêu thương con cái thường tình để tập chú vào sự giác ngộ giải thoát. Cái nhìn đó có thể tương thích với điều nào sau đây?
 A. Quan niệm mất mát quyến thuộc là nhỏ so với mất mát trí tuệ / 
B. Quan niệm mất mát danh tiếng là nhỏ so với mất mát trí tuệ /
 C. Quan niệm mất mát thể lực là nhỏ so với mất mát trí tuệ / 
D. Quan niệm mất mát danh vọng là nhỏ so với mất mát trí tuệ




Monday, April 22, 2019

Bài học. Thứ Hai ngày 22 tháng 4, 2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng Sư: TT Giác Đẳng
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 22/4/2019 
33. Kinh Phúng tụng (Sangìti sutta)

 
PHÁP NĂM CHI phần 5.10

X) Năm bất năng xứ: Này các Hiền giả, một vị Lậu tận Tỷ kheo không thể cố sát hại đời sống loài hữu tình. Một vị Lậu tận Tỷ kheo không thể cố ý lấy của không cho gọi là trộm cắp. Một vị Lậu tận Tỷ kheo không thể cố ý hành dâm. Một vị Lậu tận Tỷ kheo không thể cố ý tự mình biết mà nói láo. Một vị Lậu tận Tỷ kheo không thể tiêu dùng các vật chứa cất vào các thú vui dục lạc như khi còn là cư sĩ (pañca abhabbaṭṭhānāni. abhabbo, āvuso, khīṇāsavo bhikkhu sañcicca pāṇaṁ jīvitā voropetuṁ. abhabbo khīṇāsavo bhikkhu adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādiyituṁ abhabbo khīṇāsavo bhikkhu methunaṁ dhammaṁ paṭisevituṁ. abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sampajānamusā bhāsituṁ. abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sannidhikārakaṁ kāme paribhuñjituṁ, seyyathāpi pubbe āgārikabhūto).

Đoạn kinh sau đây trích từ Kinh Sandaka, Trung Bộ, bài 76 cho chúng ta một ngữ cảnh tiêu biểu về đề tài nầy:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Ananda! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ananda! Bốn pháp bất an phạm hạnh này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố là bất an phạm hạnh, và ở đây người trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thì không thể thành đạt chánh lý, pháp, và chí thiện. Thưa Tôn giả Ananda, vị Ðạo sư ấy dạy những gì, tuyên bố những gì, mà ở đây, người có trí có thể tự mình sống Phạm hạnh, và khi sống, có thể thành đạt chánh lý, pháp, và chí thiện?
-- Ở đây, này Sandaka, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này là Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên bố điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.
Người gia trưởng hay con người gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nghe pháp ấy, sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, người ấy suy nghĩ: "Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình". Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ, hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ, hay bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Vị ấy xuất gia như vậy, hành trì các học giới và hạnh sống các Tỷ-kheo, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết xấu hổ, sợ hãi, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Vị ấy từ bỏ đời sống không Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh, sống đời sống viễn ly, tránh xa dâm dục hạ liệt. 
Vị ấy từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, liên hệ đến sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chuyện chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thích thú trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy từ bỏ nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói dịu hiền, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người; vị ấy nói những lời nói như vậy. Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói pháp, nói luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, hợp lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.

Vị ấy từ bỏ không làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm; từ bỏ các món ăn phi thời; từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ không dùng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa, trang sức, và các thời trang; từ bỏ không dùng giường cao và giường lớn; từ bỏ không nhận vàng và bạc; từ bỏ không nhận các hạt sống; từ bỏ không nhận thịt sống, từ bỏ không nhận đàn bà con gái; từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ không nhận cừu và dê; từ bỏ không nhận gia cầm và heo; từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ không nhận ruộng nương đất đai; từ bỏ không dùng người làm môi giới hoặc tự mình làm môi giới; từ bỏ không buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
Vị ấy sống biết đủ, bằng lòng với tấm y để che thân với đồ ăn khất thực để nuôi sống, đi tại chỗ nào cũng mang theo y và bình bát. Như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh, cũng vậy, Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo. Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, nội tâm hưởng lạc thọ không khuyết phạm.
………………………………….
-- Nhưng, thưa Tôn giả Ananda, một Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, vị Tỷ-kheo ấy có thể thọ dụng các dục vọng không?
-- Này Sandaka, vị Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, vị ấy không thể vi phạm năm điều: Vị Tỷ-kheo, các lậu đã tận không có thể cố ý sát hại mạng sống chúng sanh; vị Tỷ-kheo các lậu đã tận không có thể lấy của không cho, được gọi là ăn trộm; vị Tỷ-kheo các lậu đã tận không có thể hành dâm dục; vị Tỷ-kheo các lậu đã tận không có thể cố ý nói láo; vị Tỷ-kheo các lậu đã tận không có thể hưởng thọ các dục đối với các vật được tàng trữ như trước khi còn tại gia. Này Sandaka, một vị Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, vị ấy không có thể vi phạm năm điều này.

-- Thưa Tôn giả Ananda, vị Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, khi vị ấy đi, đứng, ngủ và thức, có phải tri kiến vị ấy được an trú một cách liên tục, không gián đoạn: "Các lậu hoặc của ta đã được đoạn tận"?
-- Này Sandaka, tôi sẽ cho Ông một ví dụ, nhờ ví dụ ở đây, một số người có trí sẽ biết ý nghĩa câu nói. Ví như, này Sandaka, một người tay chân bị chặt; khi người ấy đi, đứng, ngủ và thức, tay chân bị chặt một cách liên tục, không gián đoạn, và khi người ấy suy tư về vấn đề này, người ấy biết: "Tay chân của ta bị chặt". Cũng vậy, này Sandaka, vị Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, khi vị ấy đi, đứng, ngủ và thức, các lậu hoặc được đoạn tận một cách liên tục, không gián đoạn, và khi vị ấy suy tư về vấn đề này, vị ấy biết: "Các lậu hoặc của ta đã được đoạn tận".


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Trong Tăng Chi Bộ có đề cập đến một đệ tử Phật khi tu bát quan trai giới nên có tâm niệm: “Cho đến trọn đời vị A La Hán không đoạt mạng các loài hữu tình, không lấy của không cho….” Suy niệm như vậy có lợi ích gì cho sự tu tập? - ĐĐ Nguyên Thông


Thảo luận 2. Thế nào là một bậc chí thiện được hiểu theo Phật Pháp? - TT Tuệ Quyền

Thảo luận 3. Chúng ta không phải là bậc A la hán nhưng có thể noi gương các Ngài chăng? - ĐĐ Nguyên Thông

Thảo luận 4: TT Giác Đẳng đúc kết phần thảo luận và trắc nghiệm



 III Trắc Nghiệm

Trắc nghiệm 1. Những điều “bất khả - abhabbaṭṭhāna” trong đoạn kinh hôm nay có thể hiểu tương đương với câu nào sau đây?
 A. Không có khả năng / 
B. Không thể xẩy ra /
 C. Bất lực /
 D. Luôn tránh né không làm

TT Pháp Đăng cho đáp án trắc nghiệm 1: B

Trắc nghiệm 2. Chư vị A la hán không cất chứa nhu yếu để dùng trong tương lai vì lý do nào sau đây?
 A. Vì các ngài có nhiều phước báu. Không tài sản cũng không đói /
 B. Vì các Ngài không có kho chứa riêng để cất giữ / 
C. Vì không liệu toan cuộc sống tương lai là bản chất tự nhiên của các vị hoàn toàn giải thoát / 
D. Vì Đức Phật cấm chế

ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án trắc nghiệm 2: D

Trắc nghiệm 3. Câu nào sau đây đúng với cách hiểu theo Phật Pháp? 
A. Những pháp không sát sanh, không lấy của không cho … của phàm nhân là học giới (sikkhapada - thực hành để huấn luyện), đối với chư vị A la hán là bản chất tự nhiên (pháp tánh) / 
B. Những bậc chí thiện không bao giờ tạo ác nghiệp tổn hại các loài hữu tình / 
C. Chư vị giải thoát hoàn toàn không có ưu tư về cuộc sống tương lai. / 
D. Cả ba câu trên đều đúng

TT Tuệ Quyền cho đáp án trắc nghiệm 3:D

Trắc nghiệm 4. Điều nào sau đây chính xác khi so sánh giữa hai truyền thống Bắc Truyền và Nam Truyền?
 A. Kinh điển Pàli không chấp nhận hiện tượng “bồ tát nghịch hành” /
 B. Phật giáo Bắc Truyền chấp nhận quan điểm “phương tiện mà nói”nhưng theo Nam Truyền thì “tất cả những gì dẫn đến giải thoát đều là tương ưng với sự thật” /
 C. Phật giáo Nguyên Thủy dạy sự tự tại thật sự là chứng đạt cả hai tâm giải thoát và tuệ giải thoát chứ không có nghĩa là “làm gì cũng được” / 
D. Cả ba câu trên đều đúng


TT Pháp Đăng cho đáp án trắc nghiệm 4: D

Sunday, April 21, 2019

Bài học. Chủ Nhật ngày 21 tháng 4, 2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng Sư: TT Tuệ Siêu
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 21/4/2019 
33. Kinh Phúng tụng (Sangìti sutta)

 
PHÁP NĂM CHI phần 5.9

Ix) Năm học xứ: Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngôn, không uống các loại rượu (pañca sikkhāpadāni — pāṇātipātā veramaṇī, adinnādānā veramaṇī, kāmesumicchācārā veramaṇī, musāvādā veramaṇī, surāmerayamajjappamādaṭṭhānā veramaṇī).

Chú thích sau đây trích từ quyển Kho Tàng Pháp Học của Tỳ kheo Giác Giới:
[296] Năm giới của cư sĩ, ngũ giới (Pañcasīla):
1. Tránh sát sanh (Pāṇātipātā veramaṇī), từ bỏ sự hại chết sanh mạng người và vật.
2. Tránh trộm cướp (Adinnādānā veramaṇī), từ bỏ việc lấy tài sản kẻ khác mà người ta không bằng lòng.
3. Tránh tà dâm (Kāmamicchācārā veramaṇī), từ bỏ hành vi tà vạy gian dâm trái đạo.
4. Tránh nói dối (Musāvādā veramaṇī), từ bỏ lời nói sai với sự thật.
5. Tránh uống rượu (Surāmerayamajjapamā daṭṭhānā veramaṇī), từ bỏ sự uống các chất say là nhân làm cho dể duôi.
Năm giới này trong Tiểu bộ kinh (tập Apadāna và Buddhavaṃsa). Còn gọi là thường giới (niccakāla) vì là giới mà cư sĩ phải thường thọ trì; cũng được gọi là giới nhân đạo (manussadhamma) vì đây là điều đạo đức căn bản của con người.
D. III. 235; A. III. 203; Vbh. 285.


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Chữ giới -sìla- và chữ học pháp -sikkhàpada - mang ý nghĩa đồng dị thế nào? - TT Tuệ Siêu

 Thảo luận 2. Có quan niệm không ăn chay nghĩa là sát sanh. Nói chính xác thì điều đó có đúng với kinh sách? - TT Tuệ Quyền

 Thảo luận 3. Học giới “không lấy của không cho” dịch là không trộm cắp có đầy đủ chăng? - TT Pháp Đăng


 Thảo luận 4. Quan hệ nam nữ ngoài hôn nhân có gọi là tà dâm? - TT Tuệ Quyền

 Thảo luận 5. Nói dối vì lý do chánh đáng như không muốn mẹ già đau yếu biết cái chết của đứa con thân yêu thì “có tội” chăng? - TT Pháp Đăng

Thảo luận 6. Sử dụng ma tuý có được xem là “chất say” trong giới thứ 5? - TT Tuệ Quyền



 III Trắc Nghiệm

Saturday, April 20, 2019

Bài học. Thứ Bảy ngày 20 tháng 4, 2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng Sư: TT Giác Đẳng
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 20/4/2019 
33. Kinh Phúng tụng (Sangìti sutta)

 
PHÁP NĂM CHI phần 5.8

Viii) Năm thượng phần kiết sử: Sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử, vô minh (pañca uddhambhāgiyāni saññojanāni — rūparāgo, arūparāgo, māno, uddhaccaṁ, avijjā).

Thượng phần kiết sử - uddhambhāgiyāni saññojanāni - chỉ cho những sự cột trói bền chặt và vi tế chỉ có bậc thánh tứ quả mới đoạn tận. Nên hiểu theo hai cách: Năm sự trói buộc trong đời sống hằng ngày hoặc năm sự trói buộc còn dư sót của bậc thánh A aa hàm..Những kiết sử nầy nếu hiểu là phiền não tồn đọng của bậc A na hàm thì nên hiểu là rất tế nhị như “mạn – màna” không phải hình thức kiêu căng tự phụ của phàm phu mà chỉ là sự so sánh vi tế giữa cá thể nầy với cá thể khác.
Sắc ái – rūparāga-  là sự luyến chấp với cảnh thiền sắc giới (không phải là cảnh sắc đối tượng của mắt).
Vô sắc ái – arūparāga -là luyến chấp với cảnh thiền vô sắc.
Mạn – māna – là sự cân phân giữa cá thể nầy với cá thể khác
Phóng dật – uddhacca - ở đây là sự giao động trong cách tế nhị (không phải là buông thả theo cách hiểu bình thường của chữ phóng dật),
Vô minh – avijjā – là nền tảng của tất cả phiền não. Dù còn chút ít phiền não dư sót cũng còn có sự tồn tại của vô minh.


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Có người nói rằng “sau khi chứng tu đà huờn (nhập lưu) thì không cần tu gì nữa chắc chắn sẽ tới bến bờ giải thoát hoàn toàn”. Các bậc thánh có tâm trạng “bảo đảm rồi không cần phải cố gắng nữa”? Nếu không có thì tại sao? - TT Tuệ Siêu


Thảo luận 2. Đối với các thiền chứng sắc giới và vô sắc giới thì còn có “ái” vậy thì đối với Niết bàn có thứ ái chấp như vậy chăng? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 3. Tại sao chư tăng khuyến khích Phật tử bố thí, trì giới để sanh thiên, tu thiền sanh về các cõi thiền nhưng mặt khác thì dạy dục ái, sắc ái, vô sắc ái là phiền não kiết sử? - TT Pháp Đăng

Thảo luận 4. Kiết sử hiểu là giây cột trói. Những ràng buộc của thế gian như danh vọng, bạc tiền, vợ con … sao không thấy kể ở đây? - ĐĐ Pháp Tín


Thảo luận 5. Mười kiết sử chỉ được đoạn tận bởi bốn thánh đạo như vậy phàm phu chúng ta có “hoàn toàn bất lực”? - ĐĐ Nguyên Thông

Thảo luận 6: TT Giác Đẳng đúc kết phần thảo luận


 III Trắc Nghiệm

Friday, April 19, 2019

Bài học. Thứ Sáu ngày 19 tháng 4, 2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng SưĐĐ Pháp Tín
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 19/4/2019 
33. Kinh Phúng tụng (Sangìti sutta)

 
PHÁP NĂM CHI phần 5.7

Vii) Năm hạ phần kiết sử: Thân kiến, nghi, giới cấm thủ, tham, sân (pañca orambhāgiyāni saññojanāni — sakkāyadiṭṭhi, vicikicchā, sīlabbataparāmāso, kāmacchando, byāpādo).

Đoạn sau đây trích từ Trung Bộ (Majjhima Nikaya) 64. Ðại kinh Màlunkyà (Mahà Màlunkyà sutta) giảng về Năm Hạ Phần Kiết Sứ:

-- Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời, Bạch Thiện Thệ, nay đã đến thời để Thế Tôn thuyết giảng năm hạ phần kiết sử. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
-- Vậy Ananda, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau:
-- Ở đây, này Ananda, có kẻ vô văn phàm phu, không đến yết kiến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không đến yết kiến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, sống với tâm bị triền phược bởi thân kiến, bị chi phối bởi thân kiến, và không như thật tuệ tri sự xuất ly thân kiến đã khởi lên. Thân kiến này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử. Vị ấy sống với tâm bị nghi hoặc triền phược, bị nghi hoặc chi phối, và không như thật tuệ tri sự xuất ly nghi hoặc đã khởi lên. Nghi hoặc này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử. Vị ấy sống với tâm bị giới cấm thủ triền phược, bị giới cấm thủ chi phối và không như thật tuệ tri sự xuất ly giới cấm thủ đã khởi lên. Giới cấm thủ này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử. Vị ấy sống với tâm bị dục tham triền phược, bị dục tham chi phối và không như thật biết sự xuất ly dục tham đã khởi lên, dục tham này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử. Vị ấy sống với tâm bị sân triền phược, bị sân chi phối và không như thật tuệ tri, sự xuất ly sân đã khởi lên. Sân này của vị ấy kiên cố, không được nhiếp phục, trở thành một hạ phần kiết sử.

Và này Ananda, có vị Ða văn Thánh đệ tử, đến yết kiến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đến yết kiến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân, sống với tâm không bị thân kiến triền phược, không bị thân kiến chi phối, và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly dục tham đã khởi lên. Thân kiến này của vị ấy với tùy miên được đoạn trừ. Vị này sống với tâm không bị nghi hoặc triền phược, không bị nghi hoặc chi phối, và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly nghi hoặc đã khởi lên. Nghi hoặc này của vị ấy với tùy miên được đoạn trừ. Vị ấy sống với tâm không bị giới cấm thủ triền phược, không bị giới cấm thủ chi phối và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly giới cấm thủ đã khởi lên, giới cấm thủ của vị ấy với tùy miên được đoạn trừ. Vị này sống với tâm không bị dục tham triền phược, không bị dục tham chi phối, và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly dục tham đã khởi lên. Dục tham này của vị ấy với tùy miên được đoạn trừ. Vị này sống với tâm không bị sân triền phược, không bị sân chi phối, và vị này như thật tuệ tri sự xuất ly sân đã khởi lên. Sân này của vị ấy với tùy miên được đoạn trừ.
Này Ananda, con đường nào, lộ trình nào đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nếu không thực hành con đường ấy, lộ trình ấy, nhưng năm hạ phần kiết sử được biết rõ, hay được thấy rõ, hay được đoạn trừ, sự tình như vậy không xảy ra. Ví như, này Ananda, đối với một cây lớn đứng thẳng có lõi cây, nếu người ấy không đẽo vỏ trong, không đẽo giác cây, nhưng vẫn có thể đẽo được lõi cây, sự tình này không xảy ra.
Cũng vậy, này Ananda, con đường nào, lộ trình nào đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nếu không thực hành con đường ấy, lộ trình ấy, nhưng năm hạ phần kiết sử sẽ được biết rõ, hay sẽ được thấy rõ, hay sẽ được đoạn trừ, sự tình như vậy không xảy ra. Và này Ananda, con đường nào, lộ trình nào đưa đến đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nếu thực hành con đường ấy, lộ trình ấy, thời năm hạ phần kiết sử sẽ được biết rõ, hay sẽ được thấy rõ, hay sẽ được đoạn trừ, sự tình như vậy xảy ra.
Ví như, này Ananda, đối với một cây lớn, đứng thẳng, có lõi cây, nếu người ấy sau khi đẽo vỏ trong, sau khi đẽo giác cây, thời sẽ đẽo được lõi cây, sự tình này xảy ra. Cũng vậy, này Ananda, con đường nào, lộ trình nào đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nếu thực hành con đường ấy, đạo lộ ấy, thời năm hạ phần kiết sử sẽ được biết rõ, hay sẽ được thấy rõ, hay sẽ được đoạn diệt, sự tình như vậy xảy ra.
Này Ananda, ví như sông Hằng, nước đầy tràn, con quạ có thể uống được. Rồi một người ốm yếu đi đến và nghĩ như sau: "Sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, với tay của ta, ta sẽ đến bờ bên kia an toàn". Nhưng người ấy không thể sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, với tay của người ấy, đến được bờ bên kia an toàn. Cũng vậy, này Ananda, bất cứ ai, khi được giảng pháp để đoạn trừ thân kiến, nếu tâm của vị ấy không thích thú, không hoan hỷ, không có định tĩnh, không có giải thoát, thời vị ấy cần phải được xem là giống người ốm yếu kia.
Này Ananda, ví như sông Hằng, nước lớn, đầy tràn, con quạ có thể uống được. Rồi một người lực sĩ đi đến và nghĩ như sau: "Sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, với tay của ta, ta sẽ đến bờ bên kia an toàn". Người ấy có thể sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng với tay của người ấy, đến được bờ bên kia an toàn. Cũng vậy, này Ananda, bất cứ ai, khi được giảng pháp để được đoạn trừ thân kiến, nếu tâm của vị ấy thích thú, hoan hỷ, có định tĩnh, có giải thoát, thời vị ấy được xem là giống như người lực sĩ kia
Và này Ananda, thế nào là con đường, thế nào là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử? Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo do viễn ly các sanh y (Upadhiviveka), do đoạn trừ các bất thiện pháp, do làm cho an tịnh thân thô ác hành một cách toàn diện, ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ.
Vị này chánh quán mọi sắc pháp, thọ pháp, tưởng pháp, hành pháp, thức pháp là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã. Vị này giải thoát tâm khỏi các pháp ấy. Sau khi giải thoát tâm khỏi các pháp ấy, vị ấy tập trung tâm vào bất tử giới (Amatadhatu) và nghĩ rằng: "Ðây là tịch tịnh, đây là vi diệu, tức là sự an chỉ tất cả hành, sự xả ly tất cả sanh y, sự ái diệt, vô tham, đoạn diệt, Niết-bàn". Nếu an trú vững chắc ở đây, vị này đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Nếu vị ấy không đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, thời do sự tham pháp, hỷ pháp của mình, thời do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sanh, nhập Niết-bàn ở đấy, không phải trở lui đời này nữa. Này Ananda, đây là con đường, đây là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử.

Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhứt tâm...  ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba... xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng và trú Thiền thứ tư không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Vị này chánh quán mọi sắc pháp, thọ pháp, tưởng pháp, hành pháp, thức pháp là vô thường , khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã. Vị này giải thoát tâm khỏi các pháp ấy. Sau khi giải thoát tâm khỏi các pháp ấy, vị ấy tập trung tâm vào bất tử giới (Amatadhatu) và nghĩ rằng: "Ðây là tịch tịnh, đây là vi diệu, tức là sự an chỉ tất cả hành, sự xả ly tất cả sanh y, sự ái diệt, vô tham, đoạn diệt, Niết-bàn". Nếu an trú vững chắc ở đây, vị này đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Nếu vị ấy không đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, thời do sự tham pháp, hỷ pháp của mình, thời do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sanh, nhập Niết-bàn ở đấy, không phải trở lui đời này nữa. Này Ananda, đây là con đường, đây là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử.
Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo vượt lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, không tác ý đối với dị tưởng, vị Tỷ-kheo nghĩ rằng: "Hư không là vô biên", chứng và trú Hư không vô biên xứ. Vị này chánh quán mọi sắc pháp, thọ pháp, tưởng pháp, hành pháp, thức pháp là vô thường... (như trên)... không phải trở lui đời này nữa. Này Ananda, đây là con đường, đây là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử.
Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo vượt lên mọi Hư không vô biên xứ, nghĩ rằng: "Thức là vô biên", chứng và trú Thức vô biên xứ... (như trên)... vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: "Không có vật gì", chứng và trú Vô sở hữu xứ. Vị này chánh quán mọi sắc pháp, thọ pháp, tưởng pháp, hành pháp, thức pháp là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã. Vị này giải thoát tâm khỏi các pháp ấy. Sau khi giải thoát tâm khỏi các pháp ấy, vị ấy tập trung vào bất tử giới và nghĩ rằng: "Ðây là tịch tịnh, đây là vi diệu, tức là sự an chỉ tất cả hành, sự xả ly tất cả sanh y, sự ái diệt, vô tham, đoạn diệt, Niết-bàn". Nếu an trú vững chắc ở đây, vị này đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc. Nếu vị ấy không đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc, thời do sự tham pháp, hỷ pháp của mình, do sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy được hóa sanh, nhập Niết-bàn ở đấy, không phải trở lui đời này nữa. Này Ananda, đây là con đường, đây là lộ trình đưa đến sự đoạn trừ năm hạ phần kiết sử.


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Phật pháp dạy về 10 kiết sử. Tại sao có sự phân chia hạ phần và thượng phần kiết sử? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 2. Phiền não có nhiều tại sao chỉ có 10 pháp được chỉ danh đích xác là kiết sử? - TT Tuệ Siêu


Thảo luận 3. Mười kiết sử thường được nói như là những pháp đoạn trừ bởi bốn thánh đạo nhưng trong bài kinh Mahà Màlunkyà Sutta Đức Phật giảng như những đối pháp phải bào mòn trong đời sống hằng ngày điều nầy mang ý nghĩa gì? - TT Tuệ Siêu


 III Trắc Nghiệm