Monday, August 26, 2019

Bài học. Thứ Hai ngày 26 tháng 8, 2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng SưTT Giác Đẳng  
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 26/8/2019 
34. Kinh Thập Thượng (Dasuttara sutta) 7.2

BẢY PHÁP CẦN PHẢI TU TẬP

Satta dhammā bahukārā, satta dhammā bhāvetabbā, satta dhammā pariññeyyā, satta dhammā pahātabbā, satta dhammā hānabhāgiyā, satta dhammā visesabhāgiyā, satta dhammā duppaṭivijjhā, satta dhammā uppādetabbā, satta dhammā abhiññeyyā, satta dhammā sacchikātabbā.
Có bảy pháp có nhiều tác dụng, có bảy pháp cần phải tu tập, có bảy pháp cần phải biến tri, có bảy pháp cần phải đoạn trừ, có bảy pháp chịu phần tai hại, có bảy pháp đưa đến thù thắng, có bảy pháp rất khó thể nhập, có bảy pháp cần được sanh khởi, có bảy pháp cần được thắng tri, có bảy pháp cần được tác chứng.
katame satta dhammā bhāvetabbā? satta sambojjhaṅgā — satisambojjhaṅgo, dhammavicayasambojjhaṅgo, vīriyasambojjhaṅgo, pītisambojjhaṅgo, passaddhisambojjhaṅgo, samādhisambojjhaṅgo, upekkhāsambojjhaṅgo ime satta dhammā bhāvetabbā. 
ii) Thế nào là bảy pháp cần tu tập? Bảy giác chi: Niệm Giác chi, Trạch pháp Giác chi, Tinh tấn Giác chi, Hỷ Giác chi, Khinh an Giác chi, Ðịnh Giác chi, Xả Giác chi. Ðó là bảy pháp cần phải tu tập

Chú thích sau đây trích từ KHO TÀNG PHÁP HỌC, pháp sư Giác Giới biên soạn:
[371] Bảy pháp cần tu tập (Bhāvetabba-dhammā):
Đây là bảy giác chi, chi phần của sự giác ngộ (Bojjhaṅga, sambojjhaṅga):
1. Niệm giác chi (Satisambojjhaṅga), ghi nhận bén nhạy trong đề mục đang tu tập.
2. Trạch pháp giác chi (Dhammavicayasamboj-jhaṅga), trí thẩm sát danh sắc, nhận thức sâu sắc, liễu tri chân thực tính chất pháp là vô thường, khổ v.v...
3. Cần giác chi (Vicayasambojjhaṅga), sự nỗ lực, sự nhiệt tâm, tinh tấn dõng mãnh không lui sụt việc phát huy chánh niệm tỉnh giác trong đề mục.
4. Hỷ giác chi (Pītisambojjhaṅga), sự hưng phấn, phỉ lạc, tâm hân hoan khi an trú trong đề mục.
5. Tịnh giác chi (Passaddhisambojjhaṅga), sự yên tịnh thân tâm, vắng lặng thân tâm, tức là nội tâm không bị xáo trộn bức xúc.
6. Định giác chi (Samādhisambojjhaṅga), sự tập chú trên đề mục, tâm vững trú trên đề mục, không tán loạn, không giao động.
7. Xả giác chi (Upekkhāsambojjhaṅga), sự dung hòa của tâm, trạng thái an nhiên bình thản đối với hiện trạng sanh diệt của pháp hữu vi, không bồn chồn lo âu.
D.III. 251, 282; Vbh. 277.


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Trắc nghiệm 1. Giác chi – bojjhanga được hiểu chính xác là với câu nào sau đây? 
A. Bảy bước đưa đến giác ngộ /
 B. Bảy thành tố của tuệ giác / 
C. Bảy điều kiện để tu chứng / 
D. Bảy thành quả của giác ngộ giải thoát

TT Tuệ Quyền cho đáp án trắc nghiệm 1: B

Trắc nghiệm 2. Câu nào dưới đây nói chính xác về niệm giác chi? 
A. Bén nhạy tỉnh giác với thực tại nhất là những gì đang xẩy ra ở thân và tâm/
 B. Chuyên niệm nhập tâm danh hiệu Phật hay thần chú /
 C. Thường tự nhắc trong lòng nguyên tắc nào đó /
 D. Lập đi lập lại bằng lời một điều gì


Trắc nghiệm 3. Trạch pháp giác chi mang ý nghĩa nào sau đây?
 A. Khả năng thẩm sát /
 B. Khả năng phân biệt /
 C. Khả năng tinh tế /
 D. Cả ba câu a, b và c

TT Tuệ Quyền cho đáp án trắc nghiệm 3 :D.

 Trắc nghiệm 4. Thí dụ nào sau đây có thể dùng để nói lên ý nghĩa của cần giác chi?
 A. Chân ga /
 B. bốn bánh xe / 
C. Phân khối hay mã lực của máy/ 
D. Trọng tải chuyên chở

TT Tuệ Quyền cho đáp án trắc nghiệm 4 :A.

Trắc nghiệm 5. Hỷ hay hân hoan trong bảy giác chi có công năng nào sau đây?
 A. Hưởng thụ quá trình tu tập /
 B. Thoải mái, dễ chịu trong sự tu tập /
 C. Hào hứng trong sự tu tập /
 D. Tin tưởng mạnh mẽ những gì mình làm


TT Tuệ Quyền cho đáp án trắc nghiệm 5 :B.



 III Trắc Nghiệm

Saturday, August 24, 2019

Bài học. Chủ Nhật ngày 25 tháng 8, 2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng SưTT Tuệ Siêu & TT Pháp Tân 
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 25/8/2019 
34. Kinh Thập Thượng (Dasuttara sutta) 7.1

BẢY PHÁP CÓ NHIỀU TÁC DỤNG

Satta dhammā bahukārā, satta dhammā bhāvetabbā, satta dhammā pariññeyyā, satta dhammā pahātabbā, satta dhammā hānabhāgiyā, satta dhammā visesabhāgiyā, satta dhammā duppaṭivijjhā, satta dhammā uppādetabbā, satta dhammā abhiññeyyā, satta dhammā sacchikātabbā.
Có bảy pháp có nhiều tác dụng, có bảy pháp cần phải tu tập, có bảy pháp cần phải biến tri, có bảy pháp cần phải đoạn trừ, có bảy pháp chịu phần tai hại, có bảy pháp đưa đến thù thắng, có bảy pháp rất khó thể nhập, có bảy pháp cần được sanh khởi, có bảy pháp cần được thắng tri, có bảy pháp cần được tác chứng.
katame satta dhammā bahukārā? satta ariyadhanāni — saddhādhanaṁ, sīladhanaṁ, hiridhanaṁ, ottappadhanaṁ, sutadhanaṁ, cāgadhanaṁ, paññādhanaṁ. ime satta dhammā bahukārā.
Thế nào là bảy pháp, có nhiều tác dụng? Bảy tài sản: Tín tài, giới tài, tàm tài, quí tài, văn tài, thí tài, tuệ tài. Ðó là bảy pháp có nhiều tác dụng.

Chú thích sau đây trích từ KHO TÀNG PHÁP HỌC, pháp sư Giác Giới biên soạn:

[370] Bảy pháp đa tác dụng (Bahukārā dhammā):
Đây là bảy thánh tài (Ariyadhana), tài sản cao quí hay tài sản của bậc thánh:
1. Tín tài (Saddhādhana), đức tin là tài sản cao quí, lòng tịnh tín nơi tam bảo.
2. Giới tài (Sīladhana), giới hạnh là tài sản cao quí, sự ngăn ngừa điều ác của thân khẩu.
3. Tàm tài (Hiridhana), lòng tàm là tài sản cao quí, sự hổ thẹn đối với điều ác bất thiện pháp.
4. Quý tài (Ottappadhana), lòng quý là tài sản cao quí, sự ghê sợ đối với điều ác bất thiện pháp.
5. Văn tài (Sutadhana), sự đa văn là tài sản cao quí, tức là nghe nhiều học rộng Phật pháp.
6. Thí tài (Cāgadhana), xả thí là tài sản cao quí, tức là sự dứt bỏ lòng bỏn xẻn, ưa thích bố thí với hai bàn tay rộng mở.
7. Tuệ tài (Paññādhana), trí tuệ là tài sản cao quí, trí hiểu điều lợi ích, hiểu nhân quả, hiểu điều thiện ác, hiểu bản chất danh sắc, chánh kiến.
Bảy pháp này là tài sản cao quí, thù thắng hơn tài sản vật chất vì không bị cướp đoạt, không bị hư hoại; mặt khác thánh tài này làm cho tâm an lạc và cũng tạo được tài sản vật chất. Người nào có bảy thánh tài này được gọi là người giàu có.
D.III.163,267; A.IV.5


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Thuật ngữ ariyadhana dịch là thánh tài hay thánh sản nên được định nghĩa là tài sản của các bậc thánh, hay tài sản thật sự theo cái nhìn của các bậc thánh hay là tài sản cao cả? - TT Pháp Tân 

Thảo luận 2. Những thiện pháp như tín, giới, tàm, quý …kiếp nầy có được nhưng sau khi thân hoại mạng chung có còn tồn tại trong những kiếp sau? Theo Kinh Chôn Của Để Dành thì quả phúc còn lại nhiều đời nhưng thiện tâm thì sao? - ĐĐ Nguyên Thông


Thảo luận 3. Ở mức độ nào người tu tập của bỏ cả hai thiện pháp và ác pháp? ở mức độ nào thiện pháp cần được huân tập? - TT Giác Đẳng

Thảo luận  3. Ở mức độ nào người tu tập của bỏ cả hai thiện pháp và ác pháp? ở mức độ nào thiện pháp cần được huân tập? - ĐĐ Pháp Tín 

Thảo luận 4. Dana được dịch là bố thí; càga được dịch là xả tài. Có trường hợp nào có dana mà không có càga chăng? - ĐĐ Nguyên Thông

Thảo luận 5. TT Giác Đẳng đúc kết phần thảo luận



 III Trắc Nghiệm

Friday, August 23, 2019

Bài học. Thứ Bảy ngày 24 tháng 8, 2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng SưTT Pháp Tân
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 24/8/2019 
34. Kinh Thập Thượng (Dasuttara sutta) 6.10

SÁU PHÁP CẦN ĐƯỢC TÁC CHỨNG

Cha dhammā bahukārā, cha dhammā bhāvetabbā, cha dhammā pariññeyyā, cha dhammā pahātabbā, cha dhammā hānabhāgiyā, cha dhammā visesabhāgiyā, cha dhammā duppaṭivijjhā, cha dhammā uppādetabbā, cha dhammā abhiññeyyā, cha dhammā sacchikātabbā.
Có sáu pháp có nhiều tác dụng, có sáu pháp cần phải tu tập, có sáu pháp cần phải biến tri, có sáu pháp cần phải đoạn trừ, có sáu pháp chịu phần tai hại, có sáu pháp đưa đến thù thắng, có sáu pháp rất khó thể nhập, có sáu pháp cần được sanh khởi, có sáu pháp cần được thắng tri, có sáu pháp cần được tác chứng.
katame cha dhammā sacchikātabbā? cha abhiññā — idhāvuso, bhikkhu anekavihitaṁ iddhividhaṁ paccanubhoti — ekopi hutvā bahudhā hoti T.3.308, bahudhāpi hutvā eko hoti. āvibhāvaṁ tirobhāvaṁ. tirokuṭṭaṁ tiropākāraṁ tiropabbataṁ asajjamāno gacchati seyyathāpi ākāse M.3.240. pathaviyāpi ummujjanimujjaṁ karoti seyyathāpi udake. udakepi abhijjamāne gacchati seyyathāpi pathaviyaṁ. ākāsepi pallaṅkena kamati seyyathāpi pakkhī sakuṇo. imepi candimasūriye evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve pāṇinā parāmasati parimajjati. yāva brahmalokāpi kāyena vasaṁ vatteti.
 “dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇāti dibbe ca mānuse ca, ye dūre santike ca.
“parasattānaṁ V.3.231 parapuggalānaṁ cetasā ceto paricca pajānāti {jānāti (syā. kaṁ.)}, sarāgaṁ vā cittaṁ sarāgaṁ cittanti pajānāti T.3.309 ... pe ... avimuttaṁ vā cittaṁ avimuttaṁ cittanti pajānāti.
“so anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ ekampi jātiṁ ... pe ... iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati.

“dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate yathākammūpage satte pajānāti T.3.310 ... pe ...
“āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. ime cha dhammā sacchikātabbā. 
x) Thế nào là sáu pháp cần được tác chứng? Sáu thắng trí. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo chứng được thần túc sai biệt... với thân có thể đến Phạm thiên giới; với thiên nhĩ thanh tịnh vượt khỏi loài Người, nghe được hai loại tiếng, chư Thiên và loài Người, xa và gần; với tâm của mình có thể biết tâm của các loài hữu tình khác, của các loài người khác, như tâm có tham... tâm không giải thoát, biết tâm không giải thoát; nhớ đến rất nhiều các đời trước, như một đời, hai đời... nhớ đến các đời trước với các chi tiết và các hình thức; với thiên nhãn thanh tịnh vượt quá loài Người... biết được cái loài hữu tình tùy theo nghiệp của mình; với sự diệt trừ các lậu hoặc; sau khi tự tri, tự chứng ngay trong đời hiện tại; đạt đến và an trú vô lậu Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát. Ðó là sáu pháp cần được tác chứng.

Chú thích sau đây trích từ KHO TÀNG PHÁP HỌC, pháp sư Giác Giới biên soạn:

[347] Sáu pháp cần tác chứng (Sacchikātabbā dhammā):
Đây là sáu thần thông hay lục thông (Chaḷabhiññā):
1. Biến hóa thông (Iddhividhi), thần thông làm được điều phi thường như thăng thiên độn thổ, đi trên nước, đi xuyên vách đá, hiện ra các vật v.v...
2. Thiên nhĩ thông (Dibbasota), thần thông nghe được những âm thanh đặc biệt như tiếng nói chư thiên, tiếng nói ở xa...
3. Tha tâm thông (Cetopariyañāṇa), thần thông biết được hiểu được tâm người khác khi họ chỉ khởi tư tưởng chưa nói ra.
4. Túc mạng thông (Pubbenivāsānussati), thần thông biết được đời sống quá khứ của mình, biết tiền kiếp của mình.
5. Thiên nhãn thông (Dibbacakkhu), thần thông thấy được đời sống chúng sanh, thấy được thân tướng sắc tế của loài hóa sanh, thấy được duyên nghiệp dắt dẫn loài hữu tình sinh tử. Thiên nhãn thông cũng còn gọi là sanh tử thông (Cutūpapātaññāṇa).
6. Lậu tận thông (Āsavakkhayañāṇa), thắng trí đoạn trừ được lậu hoặc phiền não chứng quả A-la-hán.
Năm loại thần thông đầu là thông hiệp thế, thần thông thứ sáu là thông siêu thế.
D.III.281; A.III.280.


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Tại sao đoạn tận lậu hoặc được tính một trong lục thông? sự đoạn tuyệt năm hạ phần kiết sử có tính là lậu tận thông? Nếu đoạn tận lâu hoặc mà không có túc mạng minh, sanh tử minh thì có được gọi là lậu tận minh? - TT Tuệ Siêu 

Thảo luận 2. Tỳ kheo Devadatta chứng thiền và thần thông nhưng tại sao vẫn luỵ vì danh lợi? phải chăng do mạn tuỵ miên hơn là đam mê danh lợi bình thường? TT Tuệ Siêu 

Thảo luận 3. Đức Phật ban hành giới luật cấm chư tỳ kheo phô diễn thần thông nhưng có khuyến khích luyện thần thông chăng? -ĐĐ Nguyên Thông

 Thảo luận 4. Nguyện lực có ảnh hưởng gì đối với sự chứng đắc lục thông? - ĐĐ Pháp Tín

Thảo luận 5. TT Giác Đẳng đúc kết phần thảo luận


 III Trắc Nghiệm

Bài học. Thứ Sáu ngày 23 tháng 8, 2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng SưĐĐ Pháp Tín & TT Giác Đẳng
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 23/8/2019 
34. Kinh Thập Thượng (Dasuttara sutta) 6.9

SÁU PHÁP CẦN ĐƯỢC THẤNG TRI

Cha dhammā bahukārā, cha dhammā bhāvetabbā, cha dhammā pariññeyyā, cha dhammā pahātabbā, cha dhammā hānabhāgiyā, cha dhammā visesabhāgiyā, cha dhammā duppaṭivijjhā, cha dhammā uppādetabbā, cha dhammā abhiññeyyā, cha dhammā sacchikātabbā.
Có sáu pháp có nhiều tác dụng, có sáu pháp cần phải tu tập, có sáu pháp cần phải biến tri, có sáu pháp cần phải đoạn trừ, có sáu pháp chịu phần tai hại, có sáu pháp đưa đến thù thắng, có sáu pháp rất khó thể nhập, có sáu pháp cần được sanh khởi, có sáu pháp cần được thắng tri, có sáu pháp cần được tác chứng.
katame cha dhammā abhiññeyyā? cha anuttariyāni — dassanānuttariyaṃ, savanānuttariyaṃ, lābhānuttariyaṃ, sikkhānuttariyaṃ, pāricariyānuttariyaṃ, anussatānuttariyaṃ. ime cha dhammā abhiññeyyā.
ix) Thế nào là sáu pháp cần được thắng tri? Sáu vô thượng chi: Kiến vô thượng, văn vô thượng, lợi đắc vô thượng, giới vô thượng, hành vô thượng, ức niệm vô thượng. Ðó là sáu pháp cần được thắng tri.

Chú thích sau đây trích từ KHO TÀNG PHÁP HỌC, pháp sư Giác Giới biên soạn:

[346] Sáu pháp cần thắng tri (Abhiññeyyā-dhammā):
Đây là sáu điều cao thượng (Anuttariya):
1. Thấy cao thượng (Dassanānuttariya), tức là sự thấy sự gặp như thế nào làm cho thiện pháp chưa sanh được sanh khởi, làm cho thiện pháp đã sanh được tăng trưởng, như gặp Đức Phật hay gặp các vị đệ tử chân chính của Phật.
2. Nghe cao thượng (Savanānuttariya), tức là sự nghe những gì làm cho thiện pháp sanh khởi và tăng trưởng, như là nghe được pháp của Đức Phật và đệ tử Ngài thuyết.
3. Đắc cao thượng (Lābhānuttariya), tức là có được cái gì mà làm cho thiện pháp sanh khởi và tăng trưởng, như có được bảy tài sản thánh nhân (tín, giới, tàm, quý, văn, thí và tuệ).
4. Học cao thượng (Sikkhānuttariya), là học tập điều gì mà làm cho thiện pháp sanh khởi và tăng trưởng; như là học tập về tăng thượng giới, tăng thượng tâm và tăng thượng tuệ.
5. Phụng sự cao thượng (Pāricariyānuttariya), là phụng sự thế nào làm cho thiện pháp sanh khởi và tăng trưởng, như phụng sự tam bảo, phụng sự lý tưởng, đem lợi ích chính mình và tha nhân.
6. Niệm cao thượng (Anussatānuttariya), là thường suy niệm điều gì mà làm cho thiện pháp sanh khởi và tăng trưởng, như niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, niệm thí, niệm giới, niệm thiên.
Sáu điều này gọi là cao thượng vì khi thực hiện đúng sẽ dẫn đến an tịnh, lạc trú, và thành tựu lợi ích lớn như thành tựu phước báu, thành tựu giải thoát...

D.III.250,281, A.III.284.326,452. 


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Tại sao sáu pháp cao thượng được gọi là những pháp cần thắng tri? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 2. Pháp phụng sự cao thượng (Pāricariyānuttariya) trong đoạn kinh có đi ngược lại với tinh thần phụng sự bình đẳng thường được đề xướng? cũng có người quan niệm ra chính sự phụng sự cho những người tầm thường bất hạnh, bị lãng quên mới “đáng quý hơn”. Quan niệm đó có đúng chăng? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 3. Học có hai bình diện: bề rộng và bề sâu. Nói về sự cần thiết của bề rộng thì kiến thức phổ thông rất cần. Những vị Tăng sĩ có nên được trang bị kiến thức ngoại điển? - TT Pháp Tân

 Thảo luận 4. Một người ưa phiếm luận chuyện thế gian có phải là biểu hiện của thiếu niệm cao thượng? - ĐĐ Nguyên Thông

Thảo luận 5. Một con người cao thượng hay một chánh nhân quân tử trong Phật Pháp được quan niệm là người thế nào? - ĐĐ Pháp Tín & TT Pháp Tân


Thảo luận 6. TT Giác Đẳng đúc kết phần thảo luận



 III Trắc Nghiệm


Thursday, August 22, 2019

Bài học. Thứ Năm ngày 22 tháng 8, 2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng SưĐĐ Huy Niệm
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 22/8/2019 
34. Kinh Thập Thượng (Dasuttara sutta) 6.8

SÁU PHÁP CẦN ĐƯỢC SANH KHỞI

Cha dhammā bahukārā, cha dhammā bhāvetabbā, cha dhammā pariññeyyā, cha dhammā pahātabbā, cha dhammā hānabhāgiyā, cha dhammā visesabhāgiyā, cha dhammā duppaṭivijjhā, cha dhammā uppādetabbā, cha dhammā abhiññeyyā, cha dhammā sacchikātabbā.
Có sáu pháp có nhiều tác dụng, có sáu pháp cần phải tu tập, có sáu pháp cần phải biến tri, có sáu pháp cần phải đoạn trừ, có sáu pháp chịu phần tai hại, có sáu pháp đưa đến thù thắng, có sáu pháp rất khó thể nhập, có sáu pháp cần được sanh khởi, có sáu pháp cần được thắng tri, có sáu pháp cần được tác chứng.
katame cha dhammā uppādetabbā? cha satatavihārā. idhāvuso, bhikkhu cakkhunā rūpaṃ disvā neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno. sotena saddaṃ sutvā ... pe ... ghānena gandhaṃ ghāyitvā... jivhāya rasaṃ sāyitvā... kāyena phoṭṭhabbaṃ phusitvā... manasā dhammaṃ viññāya neva sumano hoti na dummano, upekkhako viharati sato sampajāno. ime cha dhammā uppādetabbā.
viii) Thế nào là sáu pháp cần phải sanh khởi? Sáu hằng trú pháp. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo mắt thấy sắc không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm tỉnh giác; tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi niếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức pháp không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Ðó là sáu pháp cần được sanh khởi.

Chú thích sau đây trích từ KHO TÀNG PHÁP HỌC, pháp sư Giác Giới biên soạn:
[345] Sáu pháp cần sanh khởi (Uppādetabbā dhammā):

Đây là sáu pháp hằng trú (Satatavihārā):
1. Khi thấy sắc, an trú xả chánh niệm tỉnh giác (Rūpaṃ disvā upekkhako viharati sato sampajāno).
2. Khi nghe tiếng, an trú xả chánh niệm tỉnh giác (Saddaṃ sutvā upekkhako viharati sato sampajāno).
3. Khi ngửi mùi, an trú xả chánh niệm tỉnh giác (Gandhaṃ ghāyitvā upekkhako viharati sato sampajāno).
4. Khi nếm vị, an trú xả chánh niệm tỉnh giác (Rasaṃ sāyitvā upekkhako viharati sato sampajāno).
5. Khi xúc chạm, an trú xả chánh niệm tỉnh giác (Phoṭṭhabbaṃ phusitvā upekkhako viharati sato sampajāno).
6. Khi thức tri cảnh pháp, an trú xả chánh niệm tỉnh giác (Dhammaṃ viññāya upekkhako viharati sato sampajāno).
D. III.250,281.


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Sự bình tâm đối với cảnh do tu tập khác thế nào với sự thản nhiên vô tư lự? - ĐĐ Pháp Tín 


Thảo luận 2. Có chăng trạng thái “cố gắng bình thản”? - TT  Tuệ Quyền

Thảo luận 3. Sống với thái độ quân bình có phải là tránh không để tâm “quá hoan hỷ dù với thiện pháp”? - TT Tuệ Siêu


Thảo luận 4. Nếu nhìn các cảnh đơn thuần là sắc, thinh, khí, vị, xúc, pháp thì có gì khác với cách nhìn thường thức? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận  5. Nên tu tập hay chuẩn bị thế nào để có được bản lãnh bình tâm khi đối mặt với cảnh? - ĐĐ Huy Niệm 

Thảo luận 6. TT Giác Đẳng đúc kết phần thảo luận



 III Trắc Nghiệm

Wednesday, August 21, 2019

Bài học. Thứ Tư ngày 21 tháng 8, 2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng Sư: TT Pháp Đăng
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 21/8/2019 
34. Kinh Thập Thượng (Dasuttara sutta) 6.7

SÁU PHÁP KHÓ THỂ NHẬP

Cha dhammā bahukārā, cha dhammā bhāvetabbā, cha dhammā pariññeyyā, cha dhammā pahātabbā, cha dhammā hānabhāgiyā, cha dhammā visesabhāgiyā, cha dhammā duppaṭivijjhā, cha dhammā uppādetabbā, cha dhammā abhiññeyyā, cha dhammā sacchikātabbā.
Có sáu pháp có nhiều tác dụng, có sáu pháp cần phải tu tập, có sáu pháp cần phải biến tri, có sáu pháp cần phải đoạn trừ, có sáu pháp chịu phần tai hại, có sáu pháp đưa đến thù thắng, có sáu pháp rất khó thể nhập, có sáu pháp cần được sanh khởi, có sáu pháp cần được thắng tri, có sáu pháp cần được tác chứng.
(cha) “katame cha dhammā duppaṭivijjhā? cha nissaraṇiyā dhātuyo — idhāvuso, bhikkhu evaṃ vadeyya — ‘mettā hi kho me, cetovimutti bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, atha ca pana me byāpādo cittaṃ pariyādāya tiṭṭhatī’ti. so ‘mā hevaṃ’ tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṃ avaca, mā bhagavantaṃ abbhācikkhi. na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṃ, na hi bhagavā evaṃ vadeyya. aṭṭhānametaṃ āvuso anavakāso yaṃ mettāya cetovimuttiyā bhāvitāya bahulīkatāya yānīkatāya vatthukatāya anuṭṭhitāya paricitāya susamāraddhāya. atha ca panassa byāpādo cittaṃ pariyādāya ṭhassatīti, netaṃ ṭhānaṃ vijjati. nissaraṇaṃ hetaṃ, āvuso, byāpādassa, yadidaṃ mettācetovimuttī’ti.
“idha panāvuso, bhikkhu evaṃ vadeyya — ‘karuṇā hi kho me cetovimutti bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā. atha ca pana me vihesā cittaṃ pariyādāya tiṭṭhatī’ti. so — ‘mā hevaṃ’ tissa vacanīyo, ‘māyasmā evaṃ avaca, mā bhagavantaṃ abbhācikkhi ... pe ... nissaraṇaṃ hetaṃ, āvuso, vihesāya, yadidaṃ karuṇācetovimuttī’ti.
“idha panāvuso, bhikkhu evaṃ vadeyya — ‘muditā hi kho me cetovimutti bhāvitā ... pe ... atha ca pana me arati cittaṃ pariyādāya tiṭṭhatī’ti. so — ‘mā hevaṃ’ tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṃ avaca ... pe ... nissaraṇaṃ hetaṃ, āvuso aratiyā, yadidaṃ muditācetovimuttī’ti.
 “idha panāvuso, bhikkhu evaṃ vadeyya — ‘upekkhā hi kho me cetovimutti bhāvitā ... pe ... atha ca pana me rāgo cittaṃ pariyādāya tiṭṭhatī’ti. so — ‘mā hevaṃ’ tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṃ avaca ... pe ... nissaraṇaṃ hetaṃ, āvuso, rāgassa yadidaṃ upekkhācetovimuttī’ti.
“idha panāvuso, bhikkhu evaṃ vadeyya — ‘animittā hi kho me cetovimutti bhāvitā ... pe ... atha ca pana me nimittānusāri viññāṇaṃ hotī’ti. so — ‘mā hevaṃ’ tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṃ avaca ... pe ... nissaraṇaṃ hetaṃ, āvuso, sabbanimittānaṃ yadidaṃ animittā cetovimuttī’ti.
“idha panāvuso, bhikkhu evaṃ vadeyya — ‘asmīti kho me vigataṃ, ayamahamasmīti na samanupassāmi, atha ca pana me vicikicchākathaṃkathāsallaṃ cittaṃ pariyādāya tiṭṭhatī’ti. so — ‘mā hevaṃ’ tissa vacanīyo ‘māyasmā evaṃ avaca, mā bhagavantaṃ abbhācikkhi, na hi sādhu bhagavato abbhakkhānaṃ, na hi bhagavā evaṃ vadeyya. aṭṭhānametaṃ, āvuso, anavakāso yaṃ asmīti vigate ayamahamasmīti asamanupassato. atha ca panassa vicikicchākathaṃkathāsallaṃ cittaṃ pariyādāya ṭhassati, netaṃ ṭhānaṃ vijjati. nissaraṇaṃ hetaṃ, āvuso, vicikicchākathaṃkathāsallassa, yadidaṃ asmimānasamugghāṭo’ti. ime cha dhammā duppaṭivijjhā.
vii) Thế nào là sáu pháp rất khó thể nhập? Sáu xuất ly giới. Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: "Ta đã tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy sân tâm vẫn ngự trị tâm ta". Vị ấy cần phải được nói như sau: "Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy". Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy, trường hợp không phải như vậy. Ai tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà sân tâm vẫn ngự trị, an trú, sự kiện không thể xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, từ tâm giải thoát có khả năng giải thoát sân tâm.

Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: "Ta đã tu tập bi tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy hại tâm vẫn ngự trị tâm ta". Vị ấy cần phải được nói như sau: "Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy". Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập bi tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà hại tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, bi tâm giải thoát có khả năng giải thoát hại tâm.
Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: "Ta đã tu tập hỷ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy bất lạc tâm vẫn ngự trị tâm ta". Vị ấy cần phải được nói như sau: "Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy". Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập hỷ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, bất lạc tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, hỷ tâm giải thoát có khả năng giải thoát bất lạc tâm.
Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: "Ta đã tu tập xả tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy tham tâm vẫn ngự trị tâm ta". Vị ấy cần được nói như sau: "Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy". Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập xả tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần mà tham tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, xả tâm giải thoát, có khả năng giải thoát tham tâm.
Này các Hiền giả, lại nữa ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: "Ta đã tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy thức của tôi vẫn chạy theo các tướng". Vị ấy cần phải được nói như sau: "Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy". Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà thức vẫn chạy theo các tướng, sự kiện không xảy ra như vậy. Nếu tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà thức vẫn chạy theo các tướng, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, vô tướng tâm giải thoát có khả năng giải thoát tất cả tướng.
Này các Hiền giả, lại nữa, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: "Quan điểm "tôi có mặt" bị tôi từ khước. Quan điểm "tôi là cái này" không được tôi chấp nhận. Tuy vậy mũi tên nghi ngờ do dự vẫn ám ảnh an trú nơi tôi". Vị ấy cần phải được nói như sau: "Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy". Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy. "Quan điểm "tôi có mặt" bị tôi từ khước. Quan điểm "tôi là cái này" không được tôi chấp thuận. Tuy vậy nghi ngờ, do dự vẫn ám ảnh, an trú nơi tôi". Sự kiện không xảy ra như vậy. Này Hiền giả, chính nhờ khước từ sự ngạo mạn "tôi có mặt", mà mũi tên do dự nghi ngờ được giải thoát.
Ðó là sáu pháp rất khó thể nhập.

Chú thích sau đây trích từ KHO TÀNG PHÁP HỌC, pháp sư Giác Giới biên soạn:
[344] Sáu pháp khó thể nhập (Duppaṭivij-jhā dhammā):

Đây là sáu xuất ly giới (Nissāraṇīyā dhātuyo):
1. Xuất ly sân hận là từ tâm giải thoát (Nissa-raṇaṃ vyāpādassa yadidaṃ mettā cetovimutti).
2. Xuất ly não hại là bi tâm giải thoát (Nis-saraṇaṃ vihesāya yadidaṃ karuṇā cetovimutti).
3. Xuất ly tỵ hiềm là hỷ tâm giải thoát (Nis-saraṇaṃ aratiyā yadidaṃ muditā cetovimutti),
4. Xuất ly tham nhiễm là xả tâm giải thoát (Nissaraṇaṃ rāgassa yadidaṃ upekkhā cetovimutti).
5. Xuất ly nhất thiết tướng là vô tướng giải thoát (Nissaraṇaṃ sabbanimittānaṃ yadidaṃ animittā cetovimutti).
6. Xuất ly mũi tên nghi hoặc là trừ mạn ngã sở (Nissaraṇaṃ vicikicchākathaṅkathāsallassa yadidaṃ asmītimāna-samugghāto).
Sáu xuất ly giới này là sáu sự kiện khó quán triệt và khó tu chứng nên gọi là sáu pháp khó thể nhập.
D.III. 247, 280.


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận  1. Tại sao tham nhiễm là trạng thái đối lập với xả vô lượng tâm ? - TT Tuệ Siêu


Thảo luận 2. Làm thế nào để tu tập vô tướng tâm giải thoát? - TT Tuệ Siêu 

Thảo luận 3. Có thể chăng để cùng lúc khởi tâm bi mẫn chúng sanh này mặc dù có hận thù với chúng sang khác ? - TT Tuệ Quyền 

Thảo luận 4. Tại sao con người có thể dễ phát tâm từ bi với người đau khổ , thất bại nhưng khó tùy hỷ với người thành công hạnh phúc? - ĐĐ Nguyên Thông 


Thảo luận 5. Phải chăng cái nhìn của chúng ta đối với người khác có ành hưởng lớn đến đời sống tu tập bản thân? - TT Tuệ Quyền 

Thảo luận 6. TT Giác Đẳng đúc kết phần thảo luận


 III Trắc Nghiệm