Sunday, September 22, 2019

Bài học. Thứ Hai ngày 23 tháng 9, 2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng Sư: TT Giác Đẳng & TT Tuệ Siêu
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 23/9/2019 
34. Kinh Thập Thượng (Dasuttara sutta) 10.4

MƯỜI PHÁP CẦN PHẢI ĐOẠN TRỪ

Dasa dhammā bahukārā, dasa dhammā bhāvetabbā, dasa dhammā pariññeyyā, dasa dhammā pahātabbā, dasa dhammā hānabhāgiyā, dasa dhammā visesabhāgiyā, dasa dhammā duppaṭivijjhā, dasa dhammā uppādetabbā, dasa dhammā abhiññeyyā, dasa dhammā sacchikātabbā.
Có mười pháp có nhiều tác dụng, có mười pháp cần phải tu tập, có mười pháp cần phải biến tri, có mười pháp cần phải đoạn trừ, có mười pháp chịu phần tai hại, có mười pháp đưa đến thù thắng, có mười pháp rất khó thể nhập, có mười pháp cần được sanh khởi, có mười pháp cần được thắng tri, có mười pháp cần được tác chứng.
katame dasa dhammā pahātabbā? dasa micchattā — micchādiṭṭhi, micchāsaṅkappo, micchāvācā, micchākammanto, micchāājīvo, micchāvāyāmo, micchāsati, micchāsamādhi, micchāñāṇaṃ, micchāvimutti. ime dasa dhammā pahātabbā.
iv) Thế nào là mười pháp cần phải đoạn trừ? Mười tà pháp: Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà trí, tà giải thoát. Như vậy là mười pháp cần được đoạn trừ.

Chú thích sau đây trích từ KHO TÀNG PHÁP HỌC, pháp sư Giác Giới biên soạn:
[446] Mười pháp cần đoạn trừ (Pahātabbā dhammā):
Đây là mười pháp tà tánh (Micchatta):
1. Tà kiến (Micchādiṭṭhi), tri kiến tà vạy, tức là chấp thường kiến hay đoạn kiến, vô hành kiến, vô nhân kiến và vô hữu kiến.
2. Tà tư duy (Micchāsaṅkappo), sự suy nghĩ quấy, như là dục tầm, sân tầm và hại tầm.
3. Tà ngữ (Micchāvācā), nói quấy như là nói dối, nói ly gián, nói độc ác, nói vô ích.
4. Tà nghiệp (Micchākammanto), làm quấy như là sát sanh, trộm cắp, tà dâm.
5. Tà mạng (Micchā-ājīvo), nuôi mạng bằng cách quấy, tức là sinh kế bằng thân ác, khẩu ác và ý ác.
6. Tà tinh tấn (Micchāvāyāmo), sự siêng năng quấy, sự chuyên cần làm cho bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp biến mất, như là mê say dục lạc, siêng năng làm tội ác.
7. Tà niệm (Micchāsati), sự nhớ nghĩ quấy, như nhớ tưởng đến hưởng dục, nhớ tưởng điều ác.
8. Tà định (Micchāsamādhi), sự tập chú tâm vào đề tài quấy, như là chú tâm đến cảnh ngoài đề mục thiền, làm cho phiền não tăng trưởng.
9. Tà trí (Micchāñāṇa), sự hiểu biết quấy, tức là biết những cái không đáng biết, hay dùng mưu trí thực hiện điều ác.
10. Tà giải thoát (Micchāvimutti), sự giải thoát sai lạc do ngộ nhận, nói rõ hơn là chưa giải thoát mà chấp là đã giải thoát rồi hoan hỷ theo đó
D.III. 290; M.I.42; A.V.212.


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Chư Tăng thảo luận về giáo trình Trung Bộ Kinh sau khi giáo trình Trường Bộ Kinh hoàn tất



 III Trắc Nghiệm

Saturday, September 21, 2019

Bài học. Chủ Nhật ngày 21 tháng 9, 2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng Sư: TT Tuệ Siêu & TT Pháp Đăng
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 22/9/2019 
34. Kinh Thập Thượng (Dasuttara sutta) 10.3

MƯỜI PHÁP CẦN PHẢI BIẾN TRI

Dasa dhammā bahukārā, dasa dhammā bhāvetabbā, dasa dhammā pariññeyyā, dasa dhammā pahātabbā, dasa dhammā hānabhāgiyā, dasa dhammā visesabhāgiyā, dasa dhammā duppaṭivijjhā, dasa dhammā uppādetabbā, dasa dhammā abhiññeyyā, dasa dhammā sacchikātabbā.
Có mười pháp có nhiều tác dụng, có mười pháp cần phải tu tập, có mười pháp cần phải biến tri, có mười pháp cần phải đoạn trừ, có mười pháp chịu phần tai hại, có mười pháp đưa đến thù thắng, có mười pháp rất khó thể nhập, có mười pháp cần được sanh khởi, có mười pháp cần được thắng tri, có mười pháp cần được tác chứng.
katame dasa dhammā pariññeyyā? dasāyatanāni — cakkhāyatanaṃ, rūpāyatanaṃ, sotāyatanaṃ, saddāyatanaṃ, ghānāyatanaṃ, gandhāyatanaṃ, jivhāyatanaṃ, rasāyatanaṃ, kāyāyatanaṃ, phoṭṭhabbāyatanaṃ. ime dasa dhammā pariññeyyā.
iii) Thế nào là mười pháp cần phải biến tri? Mười xứ: Nhãn xứ, sắc xứ, tỷ xứ, thanh xứ, nhĩ xứ, hương xứ, thiệt xứ, vị xứ, thân xứ, xúc xứ. Như vậy là mười pháp cần được biến tri

Chú thích sau đây trích từ KHO TÀNG PHÁP HỌC, pháp sư Giác Giới biên soạn:
[445] Mười pháp cần biến tri (Pariññeyyā dhammā):
Đây là mười xứ thô (Oḷārikāyatanaṃ), mười sắc pháp thô đối chiếu nhau:
1. Nhãn xứ (Cakkhāyatana), là sắc thần kinh nhãn, đối chiếu cảnh sắc.
2. Sắc xứ (Rūpāyatana), là sắc cảnh sắc, đối chiếu thần kinh nhãn.
3. Nhĩ xứ (Sotāyatana), là sắc thần kinh nhĩ, đối chiếu cảnh thinh.
4. Thinh xứ (Saddāyatana), là sắc cảnh thinh, đối chiếu thần kinh nhĩ.
5. Tỷ xứ (Ghānāyatana), là sắc thần kinh tỷ, đối chiếu cảnh khí.
6. Khí xứ (Gandhāyatana), là sắc cảnh khí, đối chiếu thần kinh tỷ.
7. Thiệt xứ (Jivhāyatana), là thần kinh thiệt, đối chiếu cảnh vị.
8. Vị xứ (Rasāyatana), là sắc cảnh vị, đối chiếu thần kinh thiệt.
9. Thân xứ (Kāyāyatana), là thần kinh thân, đối chiếu cảnh xúc.
10. Xúc xứ (Phoṭṭhabbāyatana), là sắc cảnh xúc, tức ba đại hiển ngoài nước, đối chiếu thần kinh thân
D.III.290.


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Tại sao A Tỳ Đàm dạy về năm giác quan hay ngũ song thức chỉ hiện khởi trong thời gian ngắn ngủi để rồi sau đó thở thành cảnh pháp được ý thức sử lý ? - TT Tuệ Quyền

 Thảo luận 2. Tại sao Đức Phật dạy cái thấy , cái nghe là cao thượng , nhưng không dạy về ngửi, nếm hay xúc chạm cao thượng ? - ĐĐ Pháp Tín

 Thảo luận 3. Năm ngoại cảnh là : Sắc , thinh, khí vị ,xúc thường được gọi là ngũ trần . Để không bị ngũ cãnh chi phối phãi chăng cách tốt nhất là không thấy , nghe ngửi , nếm , xúc chạm ? - ĐĐ Nguyên Thông 

Thảo luận 4. Quá nặng cuộc sống hướng ngoại ảnh hưởng nội tâm chúng ta thế nào ? - TT Pháp Đăng

 Thảo luận 5. Những đam mê như thư pháp , hội họa , có được kể là sống hướng nội ? - ĐĐ Pháp Tín 

Thảo luận 6. Phãi chăng thói quen nghiêng nặng Sắc , thinh , hương , vị , xúc , khiến chúng ta khó tập trung vào sự tu tập thiền định ? - ĐĐ Nguyên Thông 


Thảo luận 7. Thói quen như thích ăn cay là thói quen của lưởi hay sở thích ăn uống ? - TT Tuệ Quyền 

Thảo luận 8. TT Giác Đẳng đúc kết phần thảo luận



 III Trắc Nghiệm

Bài học. Thứ Bảy ngày 21 tháng 9, 2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng Sư: TT Pháp Tân 
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 21/9/2019 
34. Kinh Thập Thượng (Dasuttara sutta) 10.2

MƯỜI PHÁP CẦN PHẢI TU TẬP

Dasa dhammā bahukārā, dasa dhammā bhāvetabbā, dasa dhammā pariññeyyā, dasa dhammā pahātabbā, dasa dhammā hānabhāgiyā, dasa dhammā visesabhāgiyā, dasa dhammā duppaṭivijjhā, dasa dhammā uppādetabbā, dasa dhammā abhiññeyyā, dasa dhammā sacchikātabbā.
Có mười pháp có nhiều tác dụng, có mười pháp cần phải tu tập, có mười pháp cần phải biến tri, có mười pháp cần phải đoạn trừ, có mười pháp chịu phần tai hại, có mười pháp đưa đến thù thắng, có mười pháp rất khó thể nhập, có mười pháp cần được sanh khởi, có mười pháp cần được thắng tri, có mười pháp cần được tác chứng.
katame dasa dhammā bhāvetabbā? dasa kasiṇāyatanāni — pathavīkasiṇameko sañjānāti uddhaṃ adho tiriyaṃ advayaṃ appamāṇaṃ. āpokasiṇameko sañjānāti ... pe ... tejokasiṇameko sañjānāti... vāyokasiṇameko sañjānāti... nīlakasiṇameko sañjānāti... pītakasiṇameko sañjānāti... lohitakasiṇameko sañjānāti... odātakasiṇameko sañjānāti... ākāsakasiṇameko sañjānāti... viññāṇakasiṇameko sañjānāti uddhaṃ adho tiriyaṃ advayaṃ appamāṇaṃ. ime dasa dhammā bhāvetabbā.
ii) Thế nào là mười pháp cần phải tu tập? Mười biến xứ. Một vị nào biết được địa biến xứ: trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng. Một vị biết được thủy biến... Một vị biết được hỏa biến... Một vị biết được phong biến... Một vị biết được thanh biến... Một vị biết được hoàng biến... Một vị biết được xích biến... Một vị biết được bạch biến... Một vị biết được hư không biến... Một vị biết được thức biến xứ: trên dưới, ngang, bất nhị, vô lượng. Như vậy là mười pháp cần phải tu tập.


Chú thích sau đây trích từ KHO TÀNG PHÁP HỌC, pháp sư Giác Giới biên soạn:
[444] Mười pháp cần tu tập (Bhāvetabbā dhammā):
Đây là mười biến xứ (Kasiṇāyatana):
1. Biến xứ đất (Paṭhavīkasiṇaṃ), suy tưởng đề mục đất, trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng - ud-dhaṃ adho tiriyaṃ advayaṃ appamānaṃ.
2. Biến xứ nước (Āpokasiṇaṃ), suy tưởng đề mục nước trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng.
3. Biến xứ lửa (Tejokasiṇaṃ), suy tưởng đề mục lửa, trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng.
4. Biến xứ gió (Vāyokasiṇaṃ), suy tưởng đề mục gió, trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng.
5. Biến xứ xanh (Nīlakasiṇaṃ), suy tưởng đề mục màu xanh, trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng.
6. Biến xứ vàng (Pītakasiṇaṃ), suy tưởng đề mục màu vàng, trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng.
7. Biến xứ đỏ (Lohitakasiṇaṃ), suy tưởng đề mục màu đỏ, trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng.
8. Biến xứ trắng (Odātakasiṇaṃ), suy tưởng đề mục màu trắng, trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng
9. Biến xứ hư không (Ākāsakasiṇaṃ), suy tưởng đề mục hư không, trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng
10. Biến xứ thức (Viññāṇakasiṇaṃ), suy tưởng đề mục thức tâm, trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng
D.III. 268, 290.


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Phải chăng hai biến xứ hư không và tâm thức thuộc thiền vô sắc? - TT Tuệ Siêu


Thảo luận 1b. Tại sao màu sắc   và ánh sáng khâng được nói nhiều trong A tỳ đàm? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 2. Phải chăng thiền chỉ (samatha) thời Đức Thế Tôn trụ thế đươc chú trọng nhiều hơn so với sự giảng dạy Phật pháp ngày nay? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 3. Tại sao có những đề mục thiền chỉ (samatha) thoạt nghe mang tánh “luân lý” như bốn phạm trú từ, bi, hỉ, xả, niệm chết, niệm bất tịnh..? - TT Tuệ Siêu




 III Trắc Nghiệm

Friday, September 20, 2019

Bài học. Thứ Sáu ngày 20 tháng 9, 2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng SưĐĐ Pháp Tín 
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 20/9/2019 
34. Kinh Thập Thượng (Dasuttara sutta) 10.1

MƯỜI PHÁP CÓ NHIỀU TÁC DỤNG

Nava dhammā bahukārā, nava dhammā bhāvetabbā, nava dhammā pariññeyyā, nava dhammā pahātabbā, nava dhammā hānabhāgiyā, nava dhammā visesabhāgiyā, nava dhammā duppaṭivijjhā, nava dhammā uppādetabbā, nava dhammā abhiññeyyā, nava dhammā sacchikātabbā.
Có mười pháp có nhiều tác dụng, có mười pháp cần phải tu tập, có mười pháp cần phải biến tri, có mười pháp cần phải đoạn trừ, có mười pháp chịu phần tai hại, có mười pháp đưa đến thù thắng, có mười pháp rất khó thể nhập, có mười pháp cần được sanh khởi, có mười pháp cần được thắng tri, có mười pháp cần được tác chứng.
katame dasa dhammā bahukārā? dasa nāthakaraṇādhammā — idhāvuso, bhikkhu sīlavā hoti, pātimokkhasaṃvarasaṃvuto viharati ācāragocarasampanno, aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī samādāya sikkhati sikkhāpadesu, yaṃpāvuso, bhikkhu sīlavā hoti ... pe ... sikkhati sikkhāpadesu. ayampi dhammo nāthakaraṇo.
puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu bahussuto ... pe ... diṭṭhiyā suppaṭividdhā, yaṃpāvuso, bhikkhu bahussuto ... pe ... ayampi dhammo nāthakaraṇo.
puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu kalyāṇamitto hoti kalyāṇasahāyo kalyāṇasampavaṅko. yaṃpāvuso, bhikkhu ... pe ... kalyāṇasampavaṅko. ayampi dhammo nāthakaraṇo.
puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu suvaco hoti sovacassakaraṇehi dhammehi samannāgato, khamo padakkhiṇaggāhī anusāsaniṃ. yaṃpāvuso, bhikkhu ... pe ... anusāsaniṃ. ayampi dhammo nāthakaraṇo.
puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu yāni tāni sabrahmacārīnaṃ uccāvacāni kiṃkaraṇīyāni tattha dakkho hoti analaso tatrupāyāya vīmaṃsāya samannāgato, alaṃ kātuṃ, alaṃ saṃvidhātuṃ. yaṃpāvuso, bhikkhu ... pe ... alaṃ saṃvidhātuṃ. ayampi dhammo nāthakaraṇo.
puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu dhammakāmo hoti piyasamudāhāro abhidhamme abhivinaye uḷārapāmojjo. yaṃpāvuso, bhikkhu ... pe ... uḷārapāmojjo. ayampi dhammo nāthakaraṇo.
puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu santuṭṭho hoti itarītarehi cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārehi. yaṃpāvuso, bhikkhu ... pe ... ayampi dhammo nāthakaraṇo.
puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu āraddhavīriyo viharati ... pe ... kusalesu dhammesu. yaṃpāvuso, bhikkhu ... pe ... ayampi dhammo nāthakaraṇo.
puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu satimā hoti, paramena satinepakkena samannāgato, cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritā. yaṃpāvuso, bhikkhu ... pe ... ayampi dhammo nāthakaraṇo.
puna caparaṃ, āvuso, bhikkhu paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato, ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā. yaṃpāvuso, bhikkhu ... pe ... ayampi dhammo nāthakaraṇo. ime dasa dhammā bahukārā.

i) Thế nào là mười pháp có nhiều có tác dụng? Mười pháp hộ trì nhân pháp. Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ kheo có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi, chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo nghe nhiều, gìn giữ những gì đã nghe, chất chứa những gì đã nghe, Những pháp ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý văn cú cụ túc, đề cao đời sống phạm hạnh, hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh những pháp ấy, vị đã nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ nhờ tụng đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến.
Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào, đa văn... khéo thành tựu nhờ chánh kiến, pháp như vậy là hộ trì nhân.
Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo là thiện hữu, thiện bạn lữ, là thiện bạn đảng, là hộ trì nhân. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào là thiện hữu, là thiện bạn lữ, là thiện bạn đảng. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo thiện ngôn, đầy đủ sự nhu hòa và khiêm nhường, nhẫn nại và nhận sự chỉ trích một cách cung kính. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào thiện ngôn... nhận sự chỉ trích một cách cung kính. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
Này các Hiền giả, khi nào có những trách nhiệm cần phải làm đối với các vị đồng phạm hạnh niên lạp cao hơn, vị ấy khéo léo, không có biếng nhác, suy tư một cách đầy đủ các phương tiện, vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức. Này các Hiền giả, một vị Tỷ kheo nào, đối với các vị đồng phạm hạnh... vừa đủ để tổ chức. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
Này các Hiền giả, lại nữa có vị Tỷ kheo ưa Pháp, ái luyến nói Pháp, tự mình vô cùng hoan hỷ đối với Thắng pháp, Thắng luật. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào ưa Pháp... vô cùng hoan hỷ đối với Thắng pháp, Thắng luật. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo tự mình bằng lòng với các vật dụng nhận được như y phục, ẩm thực, sàng tọa, bệnh dược. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào tự bằng lòng... Pháp như vậy là hộ trì nhân.
Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo sống tinh tấn siêng năng đoạn trừ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, cương quyết, kiên trì tinh tấn, nhẫn trì không phế bỏ các thiện pháp. Này các Hiền giả, một vị Tỷ kheo nào sống tinh tấn siêng năng... nhẫn trì không phế bỏ các thiện pháp. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo chánh niệm, đầy đủ tối thượng niệm và tỉnh giác, nhớ đến và ghi nhớ những điều nói và làm từ lâu. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có chánh niệm, ghi nhớ những điều đã nói và làm từ lâu. Pháp như vậy là hộ trì nhân.
Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có huệ trí, đầy đủ sanh diệt trí, hướng đến sự quyết trạch các bậc Thánh, chơn chánh diệt trừ mọi đau khổ. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào có huệ trí... chơn chánh diệt trừ mọi đau khổ. Pháp như vậy là hộ trì nhân.

Chú thích sau đây trích từ KHO TÀNG PHÁP HỌC, pháp sư Giác Giới biên soạn:
[443] Mười pháp đa tác dụng (Bahukārā dhammā):
Đây là mười pháp làm y chỉ (Nāthakaraṇa dhamma), pháp tạo thành chỗ nương:
1. Trì giới (Sīla), nghĩa là sống thu thúc trong giới bổn, giữ uy nghi chánh hạnh, nuôi mạng thanh tịnh.
2. Đa văn (Bāhusacca), tức là nghe nhiều học rộng, thọ trì những gì đã nghe, khéo suy xét ý nghĩa và thể nhập tri kiến.
3. Có bạn lành (Kalyāṇamittatā), tức là thân cận giao du với người bạn tốt, bạn thiện trí thức.
4. Khôn khéo trong công việc (Kiṅkaraṇīyesu dakkhatā), là có khả năng làm việc, biết phương pháp làm việc cho thành tựu.
5. Dễ dạy (Sovacassatā), là chịu nghe lời dạy bảo đúng pháp của bậc trí.
6. Cầu pháp (Dhammakāmatā), là mong muốn học pháp, thích tìm hiểu giáo pháp.
7. Chuyên cần (Viriyārambha), là siêng năng tinh tấn bất thối trong việc ngăn trừ ác pháp và tu tiến thiện pháp.
8. Tri túc (Saṇṭuṭṭhī), là biết đủ với những gì có được, chỉ vui nhận vật dụng phát sanh hợp pháp.
9. Chánh niệm (Sati), là có sự ghi nhớ bén nhạy, ức niệm trong mọi hành động, không quên mình.
10. Trí tuệ (Paññā), là có sự sáng suốt, thông hiểu mọi pháp, biết rõ điều lợi ích, điều nên làm, biết rõ con đường đưa đến đoạn tận khổ đau.
D.III. 266, 290; A.v.23


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Chư Tăng thảo luận về chương trình giáo học kế tiếp sau khi Giáo Trình Trường Bộ Kinh hoàn tất



 III Trắc Nghiệm

Thursday, September 19, 2019

Bài học. Thứ Năm ngày 19 tháng 9, 2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng SưĐĐ Huy Niệm 
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 19/9/2019 
34. Kinh Thập Thượng (Dasuttara sutta) 9.9 & 9.10

CHÍN PHÁP CẦN ĐƯỢC THẮNG TRI & CHÍN PHÁP CẦN ĐƯỢC CHỨNG NGỘ

Nava dhammā bahukārā, nava dhammā bhāvetabbā, nava dhammā pariññeyyā, nava dhammā pahātabbā, nava dhammā hānabhāgiyā, nava dhammā visesabhāgiyā, nava dhammā duppaṭivijjhā, nava dhammā uppādetabbā, nava dhammā abhiññeyyā, nava dhammā sacchikātabbā.
Có chín pháp có nhiều tác dụng, có chín pháp cần phải tu tập, có chín pháp cần phải biến tri, có chín pháp cần phải đoạn trừ, có chín pháp chịu phần tai hại, có chín pháp đưa đến thù thắng, có chín pháp rất khó thể nhập, có chín pháp cần được sanh khởi, có chín pháp cần được thắng tri, có chín pháp cần được tác chứng.
katame nava dhammā abhiññeyyā? nava anupubbavihārā — idhāvuso, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. vitakkavicārānaṁ vūpasamā ... pe ... dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. pītiyā ca virāgā ... pe ... tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. sukhassa ca pahānā ... pe ... catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā ... pe ... ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati. sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati. sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati. sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati. sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati. ime nava dhammā abhiññeyyā.
ix) Thế nào là chín pháp cần được thắng tri? Chín thứ đệ trú. Này các Hiền giả, ở đây có vị Tỷ kheo, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú vào Thiền thứ nhất, có tầm có tứ có hỷ lạc do ly dục sanh. Diệt tầm diệt tứ... Thiền thứ hai... Thiền thứ ba... chứng và trú vào Thiền thứ tư. Sau khi vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, sau khi trừ diệt các hữu đối tưởng, không có tác ý với các sai biệt tưởng, chứng và trú Hư không vô biên xứ: "Hư không là vô biên". Sau khi vượt qua Hư không vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Thức vô biên xứ: "Thức là vô biên". Sau khi vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Vô sở hữu xứ: "Không có sự vật gì tất cả". Sau khi vượt qua một cách hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Sau khi vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Diệt thọ tưởng định.
Như vậy là chín pháp cần được thắng tri.
katame nava dhammā sacchikātabbā? nava anupubbanirodhā — paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannassa kāmasaññā niruddhā hoti, dutiyaṁ jhānaṁ samāpannassa vitakkavicārā niruddhā honti, tatiyaṁ jhānaṁ samāpannassa pīti niruddhā hoti, catutthaṁ jhānaṁ samāpannassa assāsapassāssā niruddhā honti, ākāsānañcāyatanaṁ samāpannassa rūpasaññā niruddhā hoti, viññāṇañcāyatanaṁ samāpannassa ākāsānañcāyatanasaññā niruddhā hoti, ākiñcaññāyatanaṁ samāpannassa viññāṇañcāyatanasaññā T.3.334 niruddhā hoti, nevasaññānāsaññāyatanaṁ samāpannassa ākiñcaññāyatanasaññā niruddhā hoti, saññāvedayitanirodhaṁ samāpannassa saññā ca vedanā ca niruddhā honti. ime nava dhammā sacchikātabbā.
x) Thế nào là chín pháp cần được chứng ngộ? Chín thứ đệ diệt. Thành tựu Sơ thiền, các dục tưởng bị đoạn diệt; thành tựu đệ Nhị thiền, các tầm tứ bị đoạn diệt; thành tựu đệ Tam thiền, hỷ bị đoạn diệt; thành tựu đệ Tứ thiền, hơi thở vào hơi thở ra bị đoạn diệt; thành tựu Hư không vô biên xứ, sắc tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Thức vô biên xứ, Hư không vô biên xứ tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Vô hữu xứ, Thức vô biên xứ tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Vô sở hữu xứ tưởng bị đoạn diệt; thành tựu Diệt thọ tưởng (định), các tưởng và các thọ bị đoạn diệt.
Như vậy là chín pháp cần được chứng ngộ.

Chú thích sau đây trích từ KHO TÀNG PHÁP HỌC, pháp sư Giác Giới biên soạn:
[432] Chín pháp cần thắng tri (Abhiññeyyadhamma):
Đây là chín thứ bậc trú (Anupubbavihāra), sự tu chứng thiền tuần tự:
1. Chứng trú sơ thiền (Paṭhamajjhānaṃ upa-sampajja viharati).
2. Chứng trú nhị thiền (Dutiyajjhānaṃ upa-sampajja viharati).
3. Chứng trú tam thiền (Tatiyajjhānaṃ upa-sampajja viharati).
4. Chứng trú tứ thiền (Catutthajjhānaṃ upa-sampajja viharati).
5. Chứng trú không vô biên xứ (Ākāsānañcā yatanaṃ upasampajja viharati).
6. Chứng trú thức vô biên xứ (Viññānañcā yatanaṃ upasampajja viharati).
7. Chứng trú vô sở hữu xứ (Ākiñcaññāyatanaṃ upasampajja viharati).
8. Chứng trú phi tưởng phi phi tưởng xứ (Nevasaññānāsaññāyatanaṃ upasampajja viharati).
9. Chứng trú diệt thọ tưởng định (Saññāveda-yitanirodhaṃ upasampajja viharati).
Trong chín thiền trú này, thiền trú thứ chín (trú diệt thọ tưởng) chỉ bậc thánh A-na-hàm và A-la-hán mới có được. Các thiền trú khác thì hạng phàm nhân và thánh sơ quả, nhị quả đều có được.
D.III.265,290; A.IV.410

[433] Chín pháp cần tác chứng (Sacchikātabbā dhammā):
Đây là chín thứ bậc diệt (Anupubbanirodha). Sự đoạn diệt tuần tự khi tu chứng các thiền:
1. Đắc sơ thiền thì dục tưởng diệt (Paṭhamajjhānaṃ samāpannassa kāmasaññā niruddhā hoti).
2. Đắc nhị thiền thì tầm tứ diệt (Dutiyajjhānaṃ samāpannassa vitakkavicārā niruddhā honti).
3. Đắc tam thiền thì hỷ diệt (Tatiyajjhānaṃ samāpannassa pīti niruddhā hoti).
4. Đắc tứ thiền thì hơi thở diệt (Catutthajjhā naṃ samāpannassa assāsapassāsā niruddhā honti).
5. Đắc không vô biên xứ thì sắc tưởng diệt (Ākāsānañcāyatanaṃ samāpannassa rūpasaññā niruddhā hoti).
6. Đắc thức vô biên xứ thì tưởng không vô biên xứ diệt (Viññāṇañcāyatanaṃ samāpannassa ākāsānañcāyatanasaññā niruddhā hoti).
7. Đắc vô sở hữu xứ thì tưởng thức vô biên xứ diệt (Ākiñcaññāyatanaṃ samāpannassa viññānañcāyatanasaññā niruddhā hoti).
8. Đắc phi tưởng phi phi tưởng xứ thì tưởng vô sở hữu xứ diệt (Nevasaññānāsaññāyatanaṃ samāpannassa ākiñcaññāyatanasaññā niruddhā honti).
9. Đắc diệt thọ tưởng định thì tưởng và thọ diệt (Saññāvedayitanirodhaṃ samāpannassa saññā ca vedanā ca niruddhā honti).
D.III.266, 290.


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Theo Tam tạng Pali thì hơi thở quan trọng thế nào đối với người tu tập? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 2. Chữ tuần tự (bản dịch là thứ đệ - anupubba) trong bài học hôm nay có ý nghĩa gì đặc biệt? - TT Tuệ Siêu


Thảo luận 3. Khả năng nhập diệt thọ tưởng định mang ý nghĩa gì với những bậc thánh tam quả và tứ quả? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 4. Sự hiếm hoi tu tập thiền định ngày nay trong Phật giáo do nguyên nhân nào? - TT Tuệ Quyền


Thảo luận 5. Người thế nào gọi là người biết sống một mình theo Phật pháp ? - ĐĐ Pháp Tín



 III Trắc Nghiệm

Wednesday, September 18, 2019

Bài học. Thứ Tư ngày 18 tháng 9, 2019

Trường Bộ Kinh - Dìgha Nikàya
Giảng Sư: TT Pháp Đăng 
GIÁO TRÌNH TRƯỜNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 18/9/2019 
34. Kinh Thập Thượng (Dasuttara sutta) 9.8

CHÍN PHÁP CẦN ĐƯỢC SANH KHỞI

Nava dhammā bahukārā, nava dhammā bhāvetabbā, nava dhammā pariññeyyā, nava dhammā pahātabbā, nava dhammā hānabhāgiyā, nava dhammā visesabhāgiyā, nava dhammā duppaṭivijjhā, nava dhammā uppādetabbā, nava dhammā abhiññeyyā, nava dhammā sacchikātabbā.
Có chín pháp có nhiều tác dụng, có chín pháp cần phải tu tập, có chín pháp cần phải biến tri, có chín pháp cần phải đoạn trừ, có chín pháp chịu phần tai hại, có chín pháp đưa đến thù thắng, có chín pháp rất khó thể nhập, có chín pháp cần được sanh khởi, có chín pháp cần được thắng tri, có chín pháp cần được tác chứng.
katame nava dhammā uppādetabbā? nava saññā — asubhasaññā, maraṇasaññā, āhārepaṭikūlasaññā V.3.246, sabbalokeanabhiratisaññā {anabhiratasaññā (syā. ka.)}, aniccasaññā, anicce dukkhasaññā, dukkhe P.3.290 anattasaññā, pahānasaññā, virāgasaññā. ime nava dhammā uppādetabbā.
viii) Thế nào là chín pháp cần được sanh khởi? Chín tưởng: Bất tịnh tưởng, tử tưởng, thực yểm ly tưởng, nhứt thiết thế gian bất lạc tưởng, vô thường tưởng, khổ tâm tưởng trên vô thường, vô ngã tưởng trên ngã, đoạn trừ tưởng, vô tham tưởng. Như vậy là chín pháp cần được sanh khởi.

Chú thích sau đây trích từ KHO TÀNG PHÁP HỌC, pháp sư Giác Giới biên soạn:
[431] Chín pháp cần sanh khởi (Uppāde-tabbā dhammā):

Đây là chín pháp tưởng (Saññā):

1. Tưởng bất tịnh (Asubhasaññā).
2. Tưởng sự chết (Maraṇasaññā).
3. Tưởng nhờm gớm vật thực (Āhāre paṭikūlasaññā).
4. Tưởng bất hỷ cõi thế (Sabbaloke anabhiratisaññā).
5. Tưởng vô thường (Aniccasaññā).
6. Tưởng khổ trong vô thường (Anicce dukkhasaññā).
7. Tưởng vô ngã trong khổ (Dukkhe anattasaññā).
8. Tưởng đoạn trừ (Pahānasaññā).
9. Tưởng vô nhiễm (Virāgasaññā).

D.III.289.


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1.  Thấy được sự khổ giống với tâm trạng khổ với những gi mình thấy? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 2. Trong Phật học tưởng tri có phải là tưởng tượng? - TT Tuệ Siêu


Thảo luận 3. Không biết sợ khổ đau của kiếp trầm luân có phải là hùng tâm? - ĐĐ Pháp Tín

Thảo luận 4. Làm thế nào để quán vô thường chung với chánh niệm hơi thở? - TT Tuệ Quyền


Thảo luận 5. Đối ngược với khổ đau có phải là niết bàn? - ĐĐ Nguyên Thông

Thảo luận 6. TT Giác Đẳng đúc kết phần thảo luận


 III Trắc Nghiệm