Thursday, October 24, 2019

Bài học. Thứ Sáu ngày 25 tháng 10, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng SưĐĐ Pháp Tín (giảng 15" thì bị đường Net trở ngại nên đạo tràng để băng giảng)
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 25/10/2019 
10. Kinh Niệm Xứ (Satipatthàna sutta)(tiếp theo)

146. Câu “vị tỷ kheo sống quán thân trên thân (bhikkhu kāye kāyānupassī viharati)?

Theo Sớ giải thì trong trường hợp nầy chữ tỳ kheo (bhikkhu) không chỉ riêng cho vị xuất gia thọ đại giới mà chỉ cho tất cả hành giả tu tập.
Sống (viharati) hay trú chỉ cho sự tập chú mọi sinh hoạt của đời sống chung quanh sự huân tu chánh niệm.
Quán thân trên thân (kāye kāyānupassī) chỉ co sự quán sát thân thể hay hiện tượng vật chất qua 14 đối tượng (cũng dịch là đề mục): Niệm hơi thở - niệm bốn tư thế của thân – niệm cử chỉ của thân - niệm các thể trược -  niệm tứ đại – và 9 pháp niệm tử thi, hài cốt.

147. Câu: “Ở đây, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt”. dạy điều gì?

Có hai điểm quan trọng:
Đối với người mới thực tập còn trong giai đoạn huân tu chánh niệm thì những nơi thanh vắng ít bị quấy rầy, ít phận sự phải làm, có thể tự chủ được thì giờ sinh hoạt là điều rất cần thiết.
Trong phép niệm hơi thở, một phép niệm căn bản cho hầu hết hành giả, thì bước đầu cần ngồi kiết già (khoá chân cho thân vững vàng không dễ giao động); lưng thẳng cần thiết cho sự hành trì lâu dài và tăng trưởng nội lực tinh tấn; an trú chánh niệm trước mặt hướng tâm chú ý theo cách tự nhiên, ở đây chỉ cho trường hợp niệm hơi thở.

148. Niệm hơi thở trong tứ niệm xứ được Đức Phật dạy thế nào?

Đức Phật đã dạy với những điểm cô đọng với Phật ngôn như sau:
“Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy biết rõ: "Thở vô dài"; hay thở ra dài, vị ấy biết rõ: "Thở ra dài"; hay thở vô ngắn, vị ấy biết rõ: "Thở vô ngắn"; hay thở ra ngắn, vị ấy biết rõ: "Thở ra ngắn". "Cảm giác toàn thân, thở vô", vị ấy tập; "Cảm giác toàn thân, thở ra", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, thở vô", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, thở ra", vị ấy tập. Này các Tỷ-kheo, như người thợ quay hay học trò người thợ quay thiện xảo khi quay dài, biết rõ: "Tôi quay dài" hay khi quay ngắn, biết rõ: "Tôi quay ngắn". Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thở vô dài, vị ấy biết rõ: "Thở vô dài"; hay thở ra dài, vị ấy biết rõ: "Thở ra dài"; hay thở vô ngắn, vị ấy biết rõ: "Thở vô ngắn"; hay thở ra ngắn, vị ấy biết rõ: "Thở ra ngắn". "Cảm giác toàn thân, thở vô", vị ấy tập; "Cảm giác toàn thân, thở ra", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, thở vô", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, thở ra", vị ấy tập

“Tỉnh giác, vị ấy thở vô; tỉnh giác, vị ấy thở ra”. Có nghĩa là hành giả tỉnh táo nhận biết sự hiện hữu vô ra của hơi thở 
Thở vô dài, vị ấy biết rõ: "Thở vô dài"; hay thở ra dài, vị ấy biết rõ: "Thở ra dài"; hay thở vô ngắn, vị ấy biết rõ: "Thở vô ngắn"; hay thở ra ngắn, vị ấy biết rõ: "Thở ra ngắn". Có nghĩa là hơi thở ra vô dài ngắn tuỳ theo cảm xúc và sức khoẻ, có lúc thở vô ngắn mà thở ra dài (như thở dốc) hoặc có lúc thở vô dài mà thở ra ngắn (như thở buông) hành giả nhận rõ thời lượng dài ngắn của hơi thở mà không phân tích xa hơn tại sao.

"Cảm giác toàn thân, thở vô", vị ấy tập; "Cảm giác toàn thân, thở ra", vị ấy tập” có nghĩa là nếu không có những chi phối của đau nhức thì hành giả có thể thấy rõ hơn thở ra vào ảnh hưởng toàn bộ thân thể. Hành giả có thể cảm nhận hơi thở không phải một điểm mà toàn châu thân. (Riêng phần nầy Ngài Mahasi Sayadaw đặt biệt nói đến sự cảm nhận hơn thở qua tác động phồng, xệp của bụng. Nhiều vị thiền sư không đồng tình với hai lý do: thứ nhất, niệm phồng xệp chỉ tập chú vào bụng hơn là toàn thân;  thứ hai, niệm “cảm giác toàn thân thở ra thở vào” không dành cho người mới bắt đầu mà sau khi đã quen thuộc với hơi thở ra vào dài ngắn).
 "An tịnh toàn thân, thở vô", vị ấy tập; "An tịnh toàn thân, thở ra", vị ấy tập. Câu nầy dịch chính xác là “an tịnh thân hành, thở vô; an tịnh thân hành, thở ra”. Thân hành (kāyasaṅkhāra) chỉ cho hơi thở. An tịn thân hành (passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ) là hơi thở nhẹ nhàng, tự nhiên nói cách khác là hành giả không còn “vật lộn” với hơi thở.

149. Đoạn tiếp theo: “Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân”. nên được hiểu thế nào? 

Vị ấy sống quán thân trên nội thân hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân (iti ajjhattaṃ vā kāye kāyānupassī viharati, bahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati, ajjhattabahiddhā vā kāye kāyānupassī viharati)” có nghĩa là quán những hiện tượng ở tự thân mình hay thân của chúng sanh khác.

 “Vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân (samudayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, vayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati, samudayavayadhammānupassī vā kāyasmiṃ viharati) ” nghĩa là tỉnh táo nhận rõ sự khởi đầu (sanh) và sự chấm dứt (diệt) của các hiện tượng.
“"Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm (‘atthi kāyo’ti vā panassa sati paccupaṭṭhitā hoti. yāvadeva ñāṇamattāya paṭissatimattāya )” có nghĩa là đối với mọi hiện tượng hành giả chỉ xem là phương tiện huân tu chánh niệm dẫn đến tuệ giác chứ không thích thú hay ghét bỏ hiện tượng nào. 

“Và vị ấy không nương tựa, không chấp trước vật gì trên đời (anissito ca viharati na ca kiñci loke upādiyati)” nghĩa là thái độ độc lập, khách quan trong sự quán sát không nhìn bằng định kiến hay bảo thủ điều gì đó mình thích. 


ÌI Thảo Luận: Chư Tăng điều hành




 III Trắc Nghiệm

Bài học. Thứ Năm ngày 24-10-2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng SưĐĐ Huy Niệm
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 24/10/2019 
10. Kinh Niệm Xứ (Satipatthàna sutta)(tiếp theo)

140. Bốn niệm xứ là gì?

a. Sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; 
b. Sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; 
C. Sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; 
D. Sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.

141. Các cụm từ “quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm” có nghĩa là gì?

Sớ giải nêu ba chú thích:
Muốn hiểu cái nào thì phải quán sát cái đó. Muốn lãnh hội bản chất của thân thì lấy thân làm đối tượng quán chiếu.
Đó là sự chú ý đơn thuần. Thở vô biết thở vô, thở ra biết thở ra. Không “thêm hồng chuốc lục”: tôi thở, cảm thọ của tôi, tâm thái cao cả của tôi....
Đối với tất cả chỉ có ghi nhận bằng chánh niệm không bằng ái luyến hay ghét bỏ. Nói cách khác đối với thân, thọ, tâm, pháp chỉ xem là đối tượng của chánh niệm

142. Nhiệt tâm (ātāpī) ở đây nghĩa là thế nào?

Trong sự quán sát phải có yếu tố của tinh tấn tích cực. Đôi khi phải tự nhắc nếu mình chết bất ngờ sẽ không có cơ hội tu tập chánh niệm.

 143. Tỉnh giác (sampajāno) ở đây nghĩa thế nào?

Trong sự quán sát phải có ý thức trọn vệ những gì xẩy ra ở thân tâm và chung quanh. Không phải chỉ có một điểm. Thí dụ người đi đường vừa ý thức rõ bước chân mà cũng tỉnh táo với đường đi lối về.

144. Chánh niệm (satimā) ở đây nghĩa thế nào?

Là sự hướng chú ý vào hiện tại: ở đây và bây giờ. Nói cách khác là quán sát những vì vừa xẩy ra hoặc đang xẩy ra ở thân và tâm.

145. Chế ngự tham ưu ở đời (vineyya loke abhijjhādomanassaṃ) nghĩa là gì?

Là tập nhìn mọi sự vật vượt ngoài hai thái độ thường tình: tham luyến và ghét bỏ. Đối với hành giả mọi thứ được ghi nhận qua hai phương diện hiện khởi và biến mất (sanh va diệt) chứ không đặt nặng thích hay không thích.


ÌI Thảo Luận: Chư Tăng điều hành

Thảo luận 1. Trong bài kinh này Đức Phật dạy vị tỳ kheo tu tập Niệm Xứ, Ngài dùng ba từ là nhiệt tâm (ātāpī) , tỉnh giác (sampajāno), chánh niệm (satimā). Phải chăng ba pháp này nói về công cụ để giúp cho vị hành giả tu tập về Niệm Xứ không? - TT Pháp Đăng

Thảo luận 2. ĐĐ Huy Niệm đúc kết bài học.



 III Trắc Nghiệm

Wednesday, October 23, 2019

Bài học. Thứ Tư ngày 23 tháng 10, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng Sư: TT Pháp Đăng
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 23/10/2019 
10. Kinh Niệm Xứ (Satipatthàna sutta)

129. Tại sao gọi là Kinh Niệm Xứ (Satipatthàna sutta)?

Sở dĩ gọi là Kinh Niệm Xứ (Satipatthàna sutta) vì là pháp thoại của Đức Phật có nội dung dạy tứ niệm xứ.  Trong chánh tạng Pali bài kinh mang tên mahāsatipaṭṭhānasuttaṃ dịch cho đầy đủ là Đại Kinh Niệm Xứ tuy nhiên trong Trường Bộ (Dìghanikàya) có bài kinh tương tự với một đoạn về niệm tứ đế mang nhiều chi tiết hơn có lẽ vì vậy trong Trung Bộ dịch là Kinh Niệm Xứ thay vì Đại Kinh Niệm Xứ. 

130. Đại ý Kinh Niệm Xứ (Satipatthàna sutta) là gì?

Đây là bài kinh “kinh điển” dạy về bốn niệm xứ: thân quán niệm xứ, thọ quán niệm xứ, tâm quán niệm xứ, và pháp quán niệm xứ. Lời kinh hết sức hàm xúc cô đọng. Ý nghĩa thường được giảng dạy rộng rãi mang nhiều dị biệt trên cả hai phương diện kinh viện và thực hành. Cho đến ngày nay các vị thiền sư và học giả vẫn có nhiều ý kiến tương phản hay khác biệt. Người học cần tìm hiểu với tâm rộng mở, cẩn trọng và khách quan đặc biệt là giảng giải trên phương diện ứng dụng.

131. Địa danh Kuru có gì đặc biệt?

Kuru là là quốc độ nằm tại Bắc Ấn ngày nay chồng lấn với thủ đô Dehli. Hiện vẫn còn di tích với bia đá do vua Asoka dựng lên đánh dấu nơi Đức Phật dạy Kinh Niệm Xứ. Trong xã hội loài người có hiện tượng một vùng đất nào đó nổi bật về kỹ thuật, âm nhạc, nghệ thuật, ẩm thực... thời xưa người Kuru nổi tiếng về ... tu thiền tứ niệm xứ.

132. Thuật ngữ niệm Xứ - Satipatthàna được định nghĩa là gì?

Chữ sati - dịch là niệm - nguyên nghĩa là ghi nhớ. Sati được giải rộng với nhiều nghĩa tuỳ theo ngữ cảnh. Trong tứ niệm xứ có thể hiểu là: sự hướng tâm ghi nhận một cách tỉnh táo những gì vừa xẩy ra hoặc đang xẩy ra. 
Từ kép satipatthàna được giải thích theo hai cách:
Sati + upaṭṭhāna. Upaṭṭhāna có nghĩa là cấu thành, nền tảng hay cơ sở (như câu “cơ sở lý luận)
Sati + paṭṭhāna. Paṭṭhāna có nghĩa là chỗ, nơi, phạm vi, phạm trù. HT Nhất Hạnh dịch là bốn lãnh vực quán niệm. Thiền sư Sìlananda dịch là Four Foundations of Mindfullness (Bốn nền tản của chánh niệm)
Tứ niệm xứ không phải là bốn cách niệm mà là bốn cảnh giới của niệm.

133. Đức Phật đã mở đầu bài Kinh Niệm Xứ thế nào?

Đây là Phật ngôn mở đầu với sự khẳng định những điểm đặc thù của tứ niệm xứ:
Ekāyano ayaṃ, bhikkhave, maggo sattānaṃ visuddhiyā, sokaparidevānaṃ samatikkamāya dukkhadomanassānaṃ atthaṅgamāya ñāyassa adhigamāya nibbānassa sacchikiriyāya, yadidaṃ cattāro satipaṭṭhānā.
Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, đọan tận khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ.

124.  Mệnh đề: đây là “con đường độc nhất (Ekāyano ayaṃ  maggo)” hàm nghĩa thế nào?

Đây là điểm mang nhiều tranh luận. Nhiều học giả không đồng ý cách giải: Chỉ có cách tu duy nhất nầy dẫn đến giác ngộ giải thoát. Ngài Ñànamoli giải thích là “Đây là con đường để đi và đó là đường một chiều (a path that goes in one way only) ”. Sớ giải thì đưa ra nhiều giải thích: độc lộ hay lối đi duy nhất – con đường mà mỗi cá nhân phải tự đi không ai đi giùm – hành trình không có bạn lữ mà phải đi một mình – con đường chỉ có một điểm đến là niết bàn – con đường không có ngã rẽ - con đường trực tiếp không thông qua các thiền chứng (....) – con đường trực tiếp không phải đi vòng hay qua trung gian.
Trong ý nghĩa “con đường trực tiếp” các học giả Nhật Bản nêu lên quan điểm có lẽ dịch chuẩn nhất là theo cách nói “rất Đại Thừa”: Trực chỉ chân tâm, kiến tánh thành Phật (cảm nhận trực tiếp, thấy rõ bản chất thì thành tựu tuệ giác)

125. Nên hiểu thế nào mệnh đề “đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh (sattānaṃ visuddhiyā)”?

Là sự tu tập dẫn để tẩy sạch cấu uế nội tâm. Sống với chánh niệm đúng nghĩa là quán sát thực tại không qua lăng kính của vô minh và ái.

126. Nên hiểu thế nào mệnh đề “vượt khỏi sầu não (sokaparidevānaṃ samatikkamāya)”? 

Chánh niệm có khả năng hoá giải những sầu muộn do “bi kịch hoá” những điều trái ý nghịch lòng như câu: bậc thánh bị một mũi tên còn phàm nhân bị hai mũi tên: vừa khổ với điều nghịch ý vừa khuyếch đại đau khổ bằng phản ứng bất như lý tác ý.

127. Nên hiểu thế nào mệnh đề “đọan tận khổ ưu (dukkhadomanassānaṃ atthaṅgamāya)” ?

Khổ ưu là đau khổ thân tâm hay năm uẩn. Không ai có thể đoạn tất cả đau khổ của cuộc sống bằng cầu nguyện, bằng say sưa, bằng tự vẫn. Chánh niệm dẫn đến giác ngộ giải thoát đó là giải pháp toàn diện.

128. Nên hiểu thế nào mệnh đề “thành tựu chánh trí  (ñāyassa adhigamāya) “?

Chánh niệm giúp hành giả quán sát thực tại bằng thái độ khách quan, trung thực. Những hiểu biết về vô thường, bất lạc, vô ngã không do suy diễn mà được thắp sáng từ trãi nghiệm trực tiếp.

129. Nên hiểu thế nào mệnh đề “chứng ngộ Niết-bàn nibbānassa sacchikiriya”?

Chữ sacchikiriya nên hiểu là hiện thực (như giấc mơ được hiện thực). Đối với hành giả tu tứ niệm xứ thì sự tịch tịnh an lạc tối thượng được trở thành sự thật bằng chánh niệm.


ÌI Thảo Luận: TT Pháp Đăng điều hành

Thảo luận 1. Đoạn tận khổ ưu trong bài học nên hiểu như thế nào? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 2. Nhiều người nói kinh Niệm Xứ chỉ giảng cho người xứ Kuru. Những Phật tử khác cần nhận biết như thế nào để loại bỏ những lời nói như vậy? - ĐĐ Pháp Tín

Thảo luận 3. Một người Phật tử khi mới tu tập thì phải hiểu như thế nào về pháp quán Tứ Niệm Xứ? - ĐĐ Nguyên Thông

Thảo luận 4. TT Pháp Đăng đúc kết phần thảo luận


 III Trắc Nghiệm

Monday, October 21, 2019

Bài học. Thứ Ba ngày 22 tháng 10, 2019

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng Sư: TT Tuệ Siêu
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY 22/10/2019 
9. Kinh Chánh Tri Kiến (Sammàditthi sutta)

125. Hiểu về khổ đau và con đường thoát khổ thế nào gọi là chánh tri kiến?

Là nhận ra vấn đề cấp thiết phải giải quyết của đời sống là khổ đau:  vị Thánh đệ tử tuệ tri Khổ, tuệ tri Tập khởi của khổ, tuệ tri Ðoạn diệt của khổ, tuệ tri Con Ðường đưa đến đoạn diệt của khổ.

[ Tuệ tri khổ ]
Chư Hiền, thế nào là Khổ? Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu bi khổ ưu não là khổ, cầu không được là khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ. 
[ Tuệ tri tập khởi của khổ ]
Thế nào là Tập khởi của khổ? Chính là ái đưa đến tái sanh, cùng khởi hỷ dục và tham hướng đến tái sanh, cùng khởi hỷ dục và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái[ Tuệ tri đoạn diệt của khổ ]
Chư Hiền, thế nào là Ðoạn diệt của khổ? Ðó là sự đoạn diệt, ly tham, không có dư tàn, sự quăng bỏ, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự vô chấp khát ái ấy.
[ Tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của khổ ]
Chư Hiền, thế nào là Con Ðường đưa đến đoạn diệt của khổ? Chính là Thánh Ðạo Tám Ngành đưa đến khổ diệt, tức là Chánh Tri kiến, Chánh Tư duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh tấn, Chánh Niệm, Chánh Ðịnh.

126. Hiểu về tác động dây chuyền trong dòng hiện hữu thế nào gọi là chánh tri kiến?

[Hiểu rõ bản chất của già chết]
Thuộc bất kỳ hữu tình giới nào, trong từng mỗi loại hữu tình, sự già cả, suy lão, rụng răng, tóc bạc da nhăn, tuổi thọ ngày một hao mòn, bại hoại các căn; chư Hiền, như vậy gọi là già. Chư Hiền thế nào là chết? Thuộc bất kỳ hữu tình giới nào trong từng mỗi loại hữu tình, sự mệnh một, từ trần, hủy hoại, hoại diệt, tử biệt, mệnh chung, hủy hoại các uẩn, vất bỏ hình hài; chư Hiền, như vậy gọi là chết. Già như vậy và chết như vậy, chư Hiền, như vậy gọi là già chết. Từ sự tập khởi của sanh, có sự tập khởi của già chết, từ sự đoạn diệt của sanh, có sự đoạn diệt của già chết. Từ sự tập khởi của sanh, có sự tập khởi của già chết, từ sự đoạn diệt của sanh, có sự đoạn diệt của già chết. 

[Hiểu rõ bản chất của sanh]
Thuộc bất kỳ hữu tình giới nào trong từng mỗi loại hữu tình, sự sanh, hiện khởi, xuất hiện, hiện diện, hiện hành các uẩn, tụ đắc các xứ; Chư Hiền, như vậy gọi là sanh. Từ sự tập khởi của hữu có sự tập khởi của sanh, từ sự đoạn diệt của hữu, có sự đoạn diệt của sanh.
[Hiểu rõ bản chất của hữu]
Có ba hữu này: dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu. Từ tập khởi của thủ, có tập khởi của hữu; từ đoạn diệt của thủ có đoạn diệt của hữu.
[Hiểu rõ bản chất của thủ]
Có bốn thủ này: dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ. Từ tập khởi của ái, có tập khởi của thủ; từ đoạn diệt của ái, có đoạn diệt của thủ. 
[Hiểu rõ bản chất của ái]
Có sáu loại ái này: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Từ tập khởi của thọ có tập của ái; từ đoạn diệt của thọ có đoạn diệt của ái.

[Hiểu rõ bản chất của thọ]
Có sáu loại thọ này: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Từ tập khởi của xúc, có tập khởi của thọ; từ đoạn diệt của xúc, có đoạn diệt của thọ.
[Hiểu rõ bản chất của xúc]
Có sau loại xúc này: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Từ tập khởi của sáu nhập, có tập khởi từ xúc; từ đoạn diệt của sáu nhập, có đoạn diệt của xúc.
[Hiểu rõ bản chất của lục nhập]
Có sáu nhập này: nhãn nhập, nhĩ nhập, tỷ nhập, thiệt nhập, thân nhập, ý nhập. Từ tập khởi của danh sắc có tập khởi của sáu nhập.
[Hiểu rõ bản chất của danh sắc]
Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý như vậy gọi là danh; bốn đại và sắc do bốn đại tạo thành như vậy gọi là sắc; như vậy đây là danh và đây là sắc, như vậy gọi là danh sắc. Từ tập khởi của thức có tập khởi của danh sắc; từ đoạn diệt của thức có đoạn diệt của danh sắc
[Hiểu rõ bản chất của thức]
Có sáu loại thức này: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Từ tập khởi của hành, có tập khởi của thức; từ đoạn diệt của hành có đoạn diệt của thức.
[Hiểu rõ bản chất của hành]
Có ba loại hành này: thân hành, ngữ hành, tâm hành. Từ tập khởi của vô minh, có tập khởi của hành; từ đoạn diệt của vô minh, có đoạn diệt của hành.
[Hiểu rõ bản chất của vô minh]
Sự không tuệ tri về khổ, không tuệ tri về khổ tập, không tuệ tri về khổ diệt, không tuệ tri về con đường đưa đến khổ diệt, Chư Hiền, như vậy gọi là vô minh. Từ tập khởi của lậu hoặc, có tập khởi của vô minh; từ đoạn diệt của lậu hoặc, có đoạn diệt của vô minh.
[Hiểu rõ bản chất của lậu hoặc]
Có ba lậu hoặc này: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Từ tập khởi của vô minh có tập khởi của lậu hoặc; từ đoạn diệt của vô minh có đoạn diệt của lậu hoặc.

127. Tứ đế và “công thức tứ đế” khác biệt thế nào?

Tứ đế gồm bốn: khổ, nhân sanh khổ, sự diệt khổ, con đường dẫn tới sự diệt khổ. 
“Công thức tứ đế” cũng có bốn: bản chất của vấn đề, nguyên nhân, giải phải, và con đường thực hiện giải pháp. Thí dụ đoạn kinh sau đây:
 Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri lậu hoặc như vậy, tuệ tri tập khởi của lậu hoặc như vậy, tuệ tri đoạn diệt của lậu hoặc như vậy, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của lậu hoặc như vậy.

128. Sự giải thoát do thành tựu chánh tri kiến được mô tả ra sao?

Đoạn tận tham, sân, ngã chấp, vô minh: “khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên, nhổ tận gốc kiến mạn tùy miên "Tôi là", đoạn trừ vô minh, khiến minh khởi lên, diệt tận khổ đau ngay trong hiện tại”.


ÌI Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Theo Tứ Đế thì lão tử do duyên ái tập khởi , theo Thập nhị nhân duyên thì lão tử do duyên sanh tập khởi . Hai Tánh cách tập khởi khác nhau thế nào ? - TT Tuệ Siêu 

Thảo luận 2. Khi nói có đạo lộ dẩn đến đoạn diệt danh sắc, lục nhập, xúc , thọ…Như vậy người tu Phật phải tu để đoạn diệt cả mười hai mắt xích ? - TT Tuệ Siêu 


Thảo luận 3. Tứ đế và thập nhị nhân duyên liên quan thế nào ? - ĐĐ Pháp Tín 



Thảo luận 3. Tứ đế và thập nhị nhân duyên liên quan thế nào ? - TT Tuệ Siêu



 III Trắc Nghiệm