Sunday, January 26, 2020

Bài học. Chủ Nhật, ngày 26 tháng 1, 2020

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng sư: TT Giác Đẳng
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY  26/1/2020 
43. Ðại kinh Phương Quảng (Mahàvedalla sutta)(tiếp theo)

506. Sự có mặt của chúng sanh trong đời nầy được hiểu thế nào?

Đó là sự là pha trộn của nghiệp hữu (tạo tác) và sanh hữu (sự hiện hữu do nghiệp quá khứ) trong vòng sinh hoá:
-- Này Hiền giả, có bao nhiêu hữu (Bhava)?
-- Này Hiền giả có ba hữu: dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu.
-- Này Hiền giả, như thế nào sự tái sanh trong tương lai được xảy ra?
-- Này Hiền giả, bị vô minh ngăn che, bị tham ái trói buộc, các loài hữu tình thích thú chỗ này chỗ kia, như vậy, sự tái sinh trong tương lai được xảy ra.
-- Này Hiền giả, như thế nào sự tái sanh trong tương lai không xảy ra?
-- Này Hiền giả, vô minh được xả ly, minh khởi, tham ái được đoạn diệt, như vậy sự tái sanh trong tương lai không xảy ra.

507. Sự chuyển hoá sanh hữu có thể xẩy ra thế nào?
Tôn giả Mahàkotthita hỏi một câu mới nghe dường như lạc đề nhưng kỳ thật đây là điểm cho thấy sanh hữu không phải không chuyển hoá được. Câu hỏi sau lấy một điểm chúng sanh trong cõi dục giới đi vào cảnh giới của thiền sắc giới như thế nào:
-- Này Hiền giả, thế nào là Thiền thứ nhất?
-- Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Như vậy, này Hiền giả, gọi là Thiền thứ nhất.
-- Này Hiền giả, Thiền thứ nhất có bao nhiêu chi phần?
-- Này Hiền giả, Thiền thứ nhất có năm chi phần. Ở đây, này Hiền giả, Tỷ-kheo thành tựu Thiền thứ nhất, có tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Này Hiền giả, Thiền thứ nhất có năm chi phần như vậy.
-- Này Hiền giả, Thiền thứ nhất từ bỏ bao nhiêu chi phần và thành tựu bao nhiêu chi phần?
- Này Hiền giả, Thiền thứ nhất từ bỏ năm chi phần và thành tựu năm chi phần. Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo thành tựu Thiền thứ nhất từ bỏ tham dục, từ bỏ sân, từ bỏ hôn trầm thụy miên, từ bỏ trạo hối, từ bỏ nghi, thành tựu tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Này Hiền giả, như vậy Thiền thứ nhất từ bỏ năm chi phần, và thành tựu năm chi phần.

508. Ngoại giới được nhận thức thế nào đối với thiền giả?
Năm giác quan nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân biết năm cảnh thường được phàm nhân xem là toàn bộ sự sống. Kỳ thật thì mỗi giác quan có vai trò biệt lập và một khi tu tập hạn chế sự hoạt động của các giác quan không nên xem là sự sống chấm dứt:
-- Này Hiền giả, năm căn này, có cảnh giới khác nhau, có hành giới khác nhau, không có lẫn lộn cảnh giới, hành giới với nhau. Tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, giữa năm căn này, có cảnh giới sai khác, có hành giới sai khác, không có thọ lãnh cảnh giới, hành giới lẫn nhau, cái gì làm sở y cho chúng, cái gì lãnh thọ cảnh giới, hành giới của chúng?
-- Nầy Hiền giả, năm căn này, có cảnh giới sai khác, có hành giới sai khác, không có lãnh thọ cảnh giới, hành giới lẫn nhau, tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, giữa năm căn này, có cảnh giới sai khác, có hành giới sai khác, không có lẫn lộn cảnh giới, hành giới với nhau, ý làm sở y cho chúng, và ý lãnh thọ cảnh giới và hành giới của chúng.
-- Này Hiền giả, năm căn này là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, năm căn này, do duyên gì mà chúng an trú?
-- Này Hiền giả, năm căn này là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Này Hiền giả, năm căn này, do duyên tuổi thọ (Ayu) mà chúng an trú.
-- Này Hiền giả, tuổi thọ do duyên gì mà an trú?
-- Tuổi thọ do duyên hơi nóng mà an trú.
-- Này Hiền giả, hơi nóng do duyên gì mà an trú?
-- Hơi nóng do duyên tuổi thọ mà an trú.
-- Này Hiền giả, nay chúng tôi được biết từ lời nói của Tôn giả Sariputta là tuổi thọ do duyên hơi nóng mà an trú. Nay chúng tôi lại được biết từ lời nói của Tôn giả Sariputta là hơi nóng do duyên tuổi thọ mà an trú. Này Hiền giả, như thế nào, cần phải hiểu ý nghĩa lời nói này?
-- Này Hiền giả, tôi sẽ cho một ví dụ. Nhờ ví dụ, ở đây, một số người có trí sẽ hiểu ý nghĩa lời nói. Này Hiền giả, ví như khi một cây đèn dầu được thắp sáng, duyên ngọn lửa, ánh sáng được hiện ra, do duyên ánh sáng, tim đèn được thấy. Cũng vậy này Hiền giả, tuổi thọ do duyên hơi nóng mà an trú, và hơi nóng do duyên tuổi thọ mà an trú.

509. Cảm thọ không còn thì có đồng nghĩa với cái chết?
Sự sống thường được quan niệm là xác thân có tri giác. Thật ra hai điều nầy khác nhau đơn cử thí dụ là một vị nhập diệt thọ tưởng định sự sống vẫn còn. Sự hoạt động của sự sống, ở đây theo Phật học, gồm có thân hành (hơi thở), khẩu hành (tầm, tứ), ý hành (thọ, tưởng) là những định nghĩa ở cấp độ tinh xác nhất đối với hành giả tu tập tam muội định. Cho dù cả ba thân hành, khẩu hành, ý hành không còn nữa (do năng lực thiền định) thì sự sống vẫn còn:
-- Này Hiền giả, những pháp thọ hành (Ayusankhara) này là những pháp được cảm thọ (Vedaniya) này, hay những pháp thọ hành này khác với những pháp được cảm thọ này?
-- Này Hiền giả, những pháp thọ hành này không phải là những pháp được cảm thọ này. Này Hiền giả, nếu những pháp thọ hành này là những pháp được cảm thọ này thì không thể nêu rõ sự xuất khởi của vị Tỷ-kheo đã thành tựu Diệt thọ tưởng định. Này Hiền giả, vì rằng những pháp thọ hành khác, những pháp được cảm thọ khác nên có thể nêu rõ sự xuất khởi của vị Tỷ-kheo đã thành tựu Diệt thọ tưởng định.
-- Này Hiền giả, đối với thân này, khi nào có bao nhiêu pháp được từ bỏ, thì thân này được nằm xuống, quăng đi, vất bỏ, như một khúc gỗ vô tri?
-- Này Hiền giả, đối với thân này, khi nào ba pháp được từ bỏ: Tuổi thọ, hơi nóng và thức, thì thân này nằm xuống, được quăng đi, vất bỏ, như một khúc gỗ vô tri.
-- Này Hiền giả, có sự sai khác gì giữa vật chết, mạng chung này với vị Tỷ-kheo thành tựu Diệt thọ tưởng định?
-- Này Hiền giả, vật chết, mạng chung này, thân hành của nó chấm dứt, dừng lại, khẩu hành chấm dứt, dừng lại, tâm hành chấm dứt, dừng lại, tuổi thọ diệt tận, hơi nóng tiêu diệt, các căn bị bại hoại. Còn vị Tỷ-kheo thành tựu Diệt thọ tưởng định, thì thân hành của vị này được chấm dứt, được dừng lại, khẩu hành được chấm dứt, được dừng lại, tâm hành được chấm dứt, được dừng lại, nhưng tuổi thọ không diệt tận, hơi nóng không tiêu diệt, các căn được sáng suốt. Này Hiền giả, như vậy là sự sai khác giữa vật chết, mạng chung này với vị Tỷ-kheo thành tựu Diệt thọ tưởng định.

510. Có bao nhiêu cảnh giới giải thoát đối với thiền giả?

Sự giải thoát có nghĩa là vượt khỏi những hạn cuộc. Bốn giải thoát ở đây là những đề tài lớn cả hai phương diện pháp học và pháp hành:  vô lượng, không, vô tướng, vô sở hữu. Ngay cả đối với các trạng thái tâm giải thoát đều có đặc tính “xuất nhập tự tại”:
-- Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để chứng nhập tâm giải thoát bất khổ bất lạc?
-- Này Hiền giả, có bốn duyên để chứng nhập tâm giải thoát bất khổ bất lạc. Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Hiền giả, do bốn duyên này mà chứng nhập tâm giải thoát bất khổ bất lạc.
-- Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để chứng nhập vô tướng tâm giải thoát?
-- Này Hiền giả, có hai duyên để chứng nhập vô tướng tâm giải thoát: không có tác ý nhất thiết tướng và tác ý vô tướng giới. Này Hiền giả, do hai duyên này mà chứng nhập vô tướng tâm giải thoát.
-- Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để an trú vô tướng tâm giải thoát?
-- Này Hiền giả, có ba duyên để an trú vô tướng tâm giải thoát: không tác ý nhất thiết tướng, tác ý vô tướng giới, và một sự sửa soạn trước. Này Hiền giả, do ba duyên này mà an trú vô tướng tâm giải thoát.
-- Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để xuất khởi vô tướng tâm giải thoát?
-- Này Hiền giả, có hai duyên để xuất khởi vô tướng tâm giải thoát: tác ý nhất thiết tướng và không tác ý vô tướng giới. Này Hiền giả, do hai duyên này mà xuất khởi vô tướng tâm giải thoát.
-- Này Hiền giả, vô lượng tâm giải thoát này, vô sở hữu tâm giải thoát này, không tâm giải thoát này và vô tướng tâm giải thoát này, những pháp này nghĩa sai biệt và danh sai biệt, hay nghĩa đồng nhất và danh sai biệt.

-- Này Hiền giả, vô lượng tâm giải thoát, vô sở hữu tâm giải thoát, không tâm giải thoát và vô tướng tâm giải thoát này, có một pháp môn, này Hiền giả, do pháp môn này, các pháp ấy nghĩa sai biệt và danh sai biệt. Và này Hiền giả, lại có một pháp môn, do pháp môn này, các pháp ấy có nghĩa đồng nhất và danh sai biệt. Này Hiền giả, thế nào là có pháp môn, do pháp môn này các pháp ấy có nghĩa sai khác và có danh sai khác?

[vô lượng tâm giải thoát]
-Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Như vậy, này Hiền giả, gọi là vô lượng tâm giải thoát.

[vô sở hữu tâm giải thoát]
Và này Hiền giả, thế nào là vô sở hữu tâm giải thoát? Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: "Không có vật gì", chứng và trú Vô sở hữu xứ. Như vậy, này Hiền giả, gọi là Vô sở hữu tâm giải thoát.

[không tâm giải thoát]
Và này Hiền giả, thế nào là không tâm giải thoát? Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến chỗ nhà trống và suy nghĩ như sau: "Ðây trống không, không có tự ngã hay không có ngã sở". Như vậy, này Hiền giả, gọi là không tâm giải thoát.

[vô tướng tâm giải thoát]
Và này Hiền giả, thế nào là vô tướng tâm giải thoát? Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo không tác ý với nhất thiết tướng, đạt và an trú vô tướng tâm định. Như vậy, này Hiền giả, gọi là vô tướng tâm giải thoát. Như vậy là có pháp môn và do pháp môn này những pháp ấy nghĩa sai biệt và danh sai biệt.

511. Cái gì là những hạn cuộc đối lập với tâm giải thoát?

Phiền não hay tham, sân, si đích thực là những pháp khiến tâm bị đóng khung, do vậy, không thể tự tại giải thoát:
Và này Hiền giả, thế nào là có pháp môn và do pháp môn này các pháp ấy có nghĩa đồng nhất nhưng danh sai biệt. Tham, này Hiền giả, là nguyên nhân của hạn lượng; sân là nguyên nhân của hạn lượng; si là nguyên nhân của hạn lượng. Ðối với vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc và tham, sân, si này đã được chặt tận gốc như thân cây tala được chặt tận gốc, khiến chúng không thể tái sanh trong tương lai. Này Hiền giả, khi nào các tâm giải thoát là vô lượng, thì bất động tâm giải thoát được gọi là tối thượng đối với các tâm giải thoát ấy, và bất động tâm giải thoát không có tham, không có sân, không có si.
Tham, này Hiền giả, là một vật gì (chướng ngại), sân là một vật gì (chướng ngại), si là một vật gì (chướng ngại). Ðối với vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, thì tham, sân, si này đã được chặt tận gốc, như thân cây tala được chặt tận gốc, khiến chúng không thể tái sanh trong tương lai. Này Hiền giả, khi nào các tâm giải thoát là vô sở hữu, thì bất động tâm giải thoát được gọi là tối thượng đối với các tâm giải thoát ấy, và bất động tâm giải thoát ấy không có tham, không có sân, không có si.
Tham, này Hiền giả, là nhân tạo ra tướng, sân là nhân tạo ra tướng, si là nhân tạo ra tướng. Ðối với vị Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, thì tham, sân, si này được chặt tận gốc, như thân cây tala được chặt tận gốc, khiến chúng không thể tái sanh trong tương lai. Này Hiền giả, khi nào các tâm giải thoát là vô tướng, thì bất động tâm giải thoát được gọi là tối thượng đối với các tâm giải thoát ấy, và bất động tâm giải thoát này không có tham, không có sân, không có si. Như vậy, này Hiền giả, là pháp môn này, những pháp ấy là đồng nghĩa nhưng danh sai biệt.


II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành



 III Trắc Nghiệm

Saturday, January 25, 2020

Chương trình tết nguyên đán Canh Tý 2020 Lớp Phật Pháp Buddhadhamma


Chương trình tết nguyên đán Canh Tý 2020

Lớp Phật Pháp Buddhadhamma

-         Niệm tưởng ân lành Tam Bảo
-         Thể hiện tâm từ qua lời chúc nguyện tân xuân
-         Pháp vị cho ngày đầu năm
-         Tri ân và lời nguyện
-         Tuyên đọc pháp ngữ: “Kinh Tài Sản Cho Mai Hậu”
-         Hướng nguyện phước lành.

Niệm tưởng ân lành Tam Bảo

Nhất tâm đảnh lễ Ðức Như Lai bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Nhất tâm đảnh lễ Chánh Pháp do Phật thiện thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để chứng nghiệm, hiệu năng hướng thượng, trí giả thân chứng.

Nhất tâm đảnh lễ Chư Tăng  thánh đệ tử Thế Tôn bậc thiện hạnh, trực hạnh, như  hạnh, chánh hạnh, gồm bốn đôi tám vị,  các ngài xứng đáng được tôn trọng, ái kính, cúng dường, chấp tay đãnh lễ, là phước điền vô thượng trong đời.

Hàng thiên nhân các cõi
Dù thiên tiên địa tiên
Ðã vân tập nơi đây
Hãy chí thành đảnh lễ
Ðức Phật bậc như lai
Ðược chư thiên nhân loại
Ðảnh lễ và cúng dường
Mong với chân ngôn nầy
Tựu thành muôn hạnh phúc

Hàng thiên nhân các cõi
Dù thiên tiên địa tiên
Ðã vân tập nơi đây
Hãy chí thành đảnh lễ
Chánh Pháp đạo như chân
Ðược chư thiên nhân loại
Ðảnh lễ và cúng dường
Mong với chân ngôn nầy
Tựu thành muôn hạnh phúc

Hàng thiên nhân các cõi
Dù thiên tiên địa tiên
Ðã vân tập nơi đây
Hãy chí thành đảnh lễ
Tăng Chúng bậc như đức
Ðược chư thiên nhân loại
Ðảnh lễ và cúng dường
Mong với chân ngôn nầy
Tựu thành muôn hạnh phúc


Tuyên đọc pháp ngữ: “Kinh Tài Sản Cho Mai Hậu”
Người chôn giấu tài sản
Nơi hang sâu mực nước
Dụng tâm lúc hữu sự
Bị phép nước luật vua
Hay gặp phải cường hào
Ðem chuộc thân giữ mạng
Hoặc trang trải nợ nần
Hoặc phòng cơn đói kém
Sự cất giấu như vậy
Là thường tình thế gian
Vị tất đã an toàn

Nidhi vā ṭhānā cavati
Saññā vāssa vimuyhati
Nāgā vā apanāmenti
Yakkhā vāpi haranti naṃ
Appiyā vāpi dāyādā
Uddharanti apassato
Yadā puññakkhayo hoti
Sabbametaṃ vinassati

Dù chôn sâu giấu kín
Có khi bị thất thoát
Vì tài chủ lãng quên
Hay long chủng dời đổi
Dạ xoa đoạt mang đi
Hay bị kẻ thừa tự
Sanh lòng tham đánh cắp
Hoặc hết phước làm chủ
Tài sản tự biến mất

Yassa dānena sīlena
Saññamena damena ca
Nidhī sunihito hoti
Itthiyā purisassa vā
Cetiyamhi ca saṅghe vā
puggale atithīsu vā
Mātari pitari vāpi
Atho jeṭṭhamhi bhātari
Eso nidhi sunihito
Ajeyyo anugāmiko
Pahāya gamanīyesu
Etaṃ ādāya gacchati

Ai bố thí trì giới
Phòng hộ và tự chế
Gọi cất giữ tài sản
Bảo đảm và an toàn
Ai cúng dường đền tháp
Năng phụng dưỡng mẹ cha
Hậu đãi bậc huynh trưởng
Hay khách khứa láng giềng
Khéo cất giữ như vậy
Không ai chiếm đoạt được

Asādhāraṇamaññesaṃ
Acoraharaṇo nidhi
Kayirātha dhīro puññāni
Yo nidhi anugāmiko

Esa devamanussānaṃ
Sabbakāmadado nidhi
Yaṃ yaṃ devābhipatthenti
Sabbametena labbhati.

Khi mạng sống chấm dứt
Bao của tiền bỏ lại
Chỉ mang theo phước đức
Phước là tài sản thật
Không thể bị chiếm đoạt
Bậc trí tạo phúc nghiệp
Thứ tài sản đáng quí
Khiến trời người các cõi
Ðược mãn nguyện hài lòng

Suvaṇṇatā susaratā
Susaṇṭhānaṃ surūpatā
Àdhipaccaṃ parivāro
sabbametena labbhati

Padesarajjaṃ issariyaṃ
cakkavattisukhaṃ piyaṃ
Devarajjampi dibbesu
Sabbametena labbhati.

Người màu da tươi sáng
Giọng nói đẹp lòng người
Dung mạo nhìn dễ mến
Có phong cách đoan trang
Người quyền quí cao sang
Bậc vương triều tôn chủ
Bậc chuyển luân thánh chúa
Bậc thiên vương cõi trời
Tất cả quả lành nầy
Do công đức đã tạo

Mānusikā ca sampatti
Devaloke ca yā rati
Yā ca nibbāṇasampatti
Sabbametena labbhati

Những hạnh phúc trần gian
Cùng thiên lạc cõi trời
Quả niết bàn vô thượng
Tất cả quả lành nầy
Do công đức đã tạo

Mittasampadamāgamma
Yoniso ce payuñjato
Vijjāvimuttivasībhāvo
Sabbametena labbhati

Người có được bạn lành
Ðầy đủ chánh tư niệm
Ðạt chánh trí giải thoát
Tất cả quả lành nầy
Do công đức đã tạo

Paṭisambhidā vimokkhā ca
Yā ca sāvakapāramī
Paccekabodhi buddhabhūmi
Sabbametana labbhati

Bốn tuệ giác phân tích
Của thánh đệ tử Phật
Hay độc giác toàn giác
Tất cả quả lành nầy
Do công đức đã tạo

Evaṃ mahatthikā esā
Yadidaṃ puññasampadā
Tasmā dhīrā pasaṃsanti
Paṇḍitā katapuñññataṃ

Bởi lợi lạc to lớn
Của phước hạnh đã làm
Nên thiện nhân hiền trí
Tán thán và khuyến khích
Sự cất giấu tài sản
Bằng tích lũy phước lành




Friday, January 24, 2020

Bài học. Thứ Sáu, ngày 24 tháng 1, 2020

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng sư: ĐĐ Pháp Tín
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY  24/1/2020 
43. Ðại kinh Phương Quảng (Mahàvedalla sutta)(tiếp theo)

504. Khi được hỏi về một nội tâm hoàn toàn không liên hệ với năm trần cảnh Tôn giả Sàriputta trả lời thế nào?

Đó là trình độ vượt khỏi dục giới và sắc giới đưa đến chứng ngộ thiền vô sắc:

-- Này Hiền giả, ý thức thanh tịnh, không liên hệ đến năm căn có thể đưa đến gì?
-- Này Hiền giả, ý thức thanh tịnh, không liên hệ đến năm căn, có thể đưa đến Hư không vô biên xứ; hư không là vô biên, có thể đưa đến Thức vô biên xứ; thức là vô biên, có thể đưa đến Vô sở hữu xứ, không có sự vật gì.

Theo Sớ giải thì tầng thiền vô sắc cao nhất là phi tưởng phi phi tưởng quá tế nhị để quán sát bằng tuệ quán. Và ba tầng thiền vô sắc không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ chỉ có thể quán sát bằng con mắt tuệ:
-- Này Hiền giả, pháp gì đưa đến nhờ gì có thể tuệ tri điều trên?
-- Này Hiền giả, nhờ tuệ nhãn, pháp được đưa đến có thể tuệ tri.
-- Này Hiền giả, cái gì là mục đich của tuệ quán?
-- Này Hiền giả, trí tuệ có thể dẫn đến thắng tri (Abhinnattha), có thể dẫn đến  liễu tri (Parinnattha), có thể dẫn đến đoạn tận (Pahanattha).

505. Chánh tri kiến có thể có được do duyên gì?

Ngài Sàriputta trả lời rằng có hai yếu tố tạo nên chánh tri kiến: a. Được khai thi do bởi Đức Phật hay các đệ tử Phật (thinh văn) và b. Thành tựu nhờ như lý tác ý:
-- Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên khiến chánh tri kiến sanh khởi?
-- Này Hiền giả, có hai duyên khiến chánh tri kiến sanh khởi: Tiếng của người khác và như lý tác ý. Này Hiền giả, do hai duyên này, chánh tri kiến sanh khởi.

Khi được hỏi pháp nào hỗ trợ cho chánh tri kiến thì Tôn giả Sàriputta trả lời có năm pháp: giới hạnh tốt đẹp, nghe nhiều học rộng, đàm luận nghĩa lý, tu chỉ, tu quán:

-- Này Hiền giả, chánh tri kiến phải được hỗ trợ bởi bao nhiêu chi phần để có tâm giải thoát quả, tâm giải thoát quả công đức, và tuệ giải thoát quả, tuệ giải thoát quả công đức?
-- Này Hiền giả, chánh tri kiến phải được hỗ trợ bởi năm chi phần để có tâm giải thoát quả, tâm giải thoát quả công đức, tuệ giải thoát quả và tuệ giải thoát quả công đức. Ở đây, này Hiền giả, chánh tri kiến có giới hỗ trợ, có văn (Suta) hỗ trợ, có thảo luận hỗ trợ, có chỉ (Samatha) hỗ trợ, có quán (Vipassana) hỗ trợ. Này Hiền giả, chánh tri kiến được hỗ trợ bởi năm chi phần này để có tâm giải thoát quả, tâm giải thoát quả công đức, tuệ giải thoát quả và tuệ giải thoát quả công đức.



II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận: TT Giác Đẳng đúc kết bài học 43. Ðại kinh Phương Quảng (Mahàvedalla sutta)

Thảo luận 1. Tại sao giới và tu chỉ là những pháp hỗ trợ cho chánh tri kiến? - TT Tuệ Siêu


TK Giac Dang: pañcahi kho, āvuso, aṅgehi anuggahitā sammādiṭṭhi cetovimuttiphalā ca hoti cetovimuttiphalānisaṁsā ca, paññāvimuttiphalā ca hoti paññāvimuttiphalānisaṁsā ca. idhāvuso, sammādiṭṭhi sīlānuggahitā ca hoti, sutānuggahitā ca hoti, sākacchānuggahitā ca hoti, samathānuggahitā ca hoti, vipassanānuggahitā ca hoti. imehi kho, āvuso, pañcahaṅgehi anuggahitā sammādiṭṭhi cetovimuttiphalā ca hoti cetovimuttiphalānisaṁsā ca, paññāvimuttiphalā ca hoti paññāvimuttiphalānisaṁsā cā”ti.


 Thảo luận 2. Ý  nghĩa của chữ ànisamsa -lợi lạc (bản dịch là công đức) trong các chữ cetovimuttiphalānisaṁsā , paññāvimuttiphalānisaṁsā nên được hiểu thế nào? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 3.  Phải chăng qua pháp đàm giữa hai bậc đại đệ tử Phật cho thấy phải chăng ở trình độ cao của pháp hành vẫn cần hỗ trợ của pháp học? - TT Tuệ Siêu 


 Thảo luận 4. Vipassana trong kinh điển có hẳn hoàn toàn đồng nghĩa với pháp tứ niệm xứ? - TT Tuệ Siêu




 III Trắc Nghiệm

Thursday, January 23, 2020

Bài học. Thứ Năm, ngày 23 tháng 1, 2020

Trung Bộ Kinh - Majjhima Nikaya
Giảng sư: TT Tuệ Siêu
GIÁO TRÌNH TRUNG BỘ KINH  HƯỚNG DẪN BÀI HỌC NGÀY  23/1/2020 
43. Ðại kinh Phương Quảng (Mahàvedalla sutta)(tiếp theo)

503. Hai bậc đại trí đã đàm luận thế nào về cái biết của thức?
Toàn bộ sự phân tích về tâm và trí trong bài kinh nầy được vấn đáp trong phạm vi tâm thái của một hành giả trên hành trình tu tập. Đối với một vị có kiến thức về A tỳ đàm và pháp hành chỉ, quán thì những phân tích ở đây đặc biệt lợi ích.
Cái biết của thức hay thức tri là nhận biết của cảnh khổ, cảnh lạc, cảnh bất khổ bất lạc. Cái biết của thức (thức tri) có thể có thể đi chung hoặc tách rời cái biết của trí (tuệ tri). Tôn giả Sàriputta đưa ra dẫn chứng một điểm cụ thể: Tuệ tri có thể được huân tu nhưng thức tri thì chỉ có thể nhận hiểu:

-- Thức, thức, này Hiền giả, được gọi là như vậy, Này Hiền giả, như thế nào được gọi là thức?
-- Này Hiền giả, vì thức tri, thức tri, này Hiền giả nên được gọi là có thức. Thức tri gì? Thức tri lạc, thức tri khổ, thức tri bất khổ bất lạc. Vì thức tri, thức tri, này Hiền giả, nên được gọi là có thức.
-- Nầy Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, những pháp này được kết hợp hay không được kết hợp? Có thể chăng, nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần?
-- Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không kết hợp. Không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần. Này Hiền giả, điều gì tuệ tri được là thức tri được, điều gì thức tri được là tuệ tri được. Do vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không kết hợp, và không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần.
-- Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, thế nào là sự sai khác giữa những pháp được kết hợp, không phải không kết hợp này?
-- Này Hiền giả, trí tuệ như vậy, thức như vậy, giữa những pháp được kết hợp, không phải không được kết hợp này, trí tuệ cần phải được tu tập (Bhavetabba), còn thức cần phải được liễu tri (Parinneyyam) như vậy là sự sai khác giữa những pháp này.
503. Cái biết của thọ và cái biết của tưởng được định nghĩa và so sánh thế nào?
Cái biết của thọ là cái biết của cảm giác (vedeti). Có ba thứ cảm thọ là khổ thọ, lạc thọ, bất lạc bất khổ thọ. Cảm thọ trong Phật Pháp đơn thuần là cảm biến đối với cảnh chứ không phải là phản ứng thích, không thích hay thản nhiên. Sớ giải đặc biệt nhấn mạnh chỉ có cảm thọ chứ không có người cảm thọ:
-- Cảm thọ, cảm thọ, này Hiền giả, được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là cảm thọ?
-- Này Hiền giả, cảm thọ, cảm thọ (Vedeti), nên được gọi là cảm thọ. Và cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ bất khổ bất lạc. Này Hiền giả, cảm thọ, cảm thọ, nên được gọi là cảm thọ.

Cái biết của tưởng hay tưởng tri (sañjānāti) là cái biết cảnh trạng lại. Cảnh ở đây là màu sắc của kasina hay đề mục niệm gồm bốn màu gốc của tất cả màu sắc là xanh, vàng, đỏ, trắng:
-- Này Hiền giả, tưởng, tưởng (Sanna) được gọi là như vậy. Này Hiền giả, như thế nào được gọi là tưởng?
-- Tưởng tri, tưởng tri (Sanjanati), này Hiền giả, nên được gọi là tưởng, Và tưởng tri gì? Tưởng tri màu xanh, tưởng tri màu vàng, tưởng tri màu đỏ, tưởng tri màu trắng. Tưởng tri, tưởng tri, này Hiền giả, nên được gọi là tưởng.
-- Này Hiền giả, thọ như vậy, tưởng như vậy, những pháp này được kết hợp hay không được kết hợp? Có thể chăng, nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần?
-- Này Hiền giả, cảm thọ như vậy, tưởng như vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không được kết hợp. Không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần. Này Hiền giả, điều gì cảm thọ được là tưởng tri được, điều gì tưởng tri được là cảm thọ được. Do vậy, những pháp này được kết hợp, không phải không được kết hợp, và không có thể nêu lên sự sai khác giữa những pháp này, sau khi phân tích chúng nhiều lần.

Cũng như cái biết của trí và cái biết của thức, đoạn nầy so sánh cái biết của thọ và cái biết của tưởng có thể đi chung và có thể tách rời. Trong tâm thiền có cái biết của cảm biến đối với cảnh (thọ) mà cũng có cái biết của ấn tượng sắc màu (tưởng tri).

Sự phân tích ở đây rất quan trọng để hiểu về sự chứng đạt cao tột của tâm giải thoát và tuệ giải thoát được đề cập sau nầy về “diệt thọ tưởng định”




II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

Thảo luận 1. Xin cho một vài thí dụ về sự đồng sanh của bốn danh uẩn? - TT Tuệ Siêu

Thảo luận 2.  Sự phân biệt tuệ tri, thức tri, tưởng tri, thọ tri (cảm giác) có lợi ích gì cho hành giả tu tập? - TT Pháp Tân

Thảo luận 3. TT Giác Đẳng đúc kết bài học



 III Trắc Nghiệm

Trắc nghiệm 1. Cái biết nào sau đây là sự nhận biết do ấn tượng từ quá khứ? 
A. Tuệ tri /
 B. Thức tri /
 C. Tưởng tri /
 D. Thọ tri (cảm giác)

TT Pháp Đăng cho đáp án trắc nghiệm 1 : C.

Trắc nghiệm 2. Cái biết nào sau đây sự nhận biết cảnh đơn thuần? 
A. Tuệ tri / 
B. Thức tri / 
C. Tưởng tri /
 D. Thọ tri (cảm giác)


TT Pháp Tân cho đáp án trắc nghiệm 2: B

Trắc nghiệm 3. Cái biết nào sau đây sự nhận hiểu cảnh có nhân có quả, có chiều sâu? 
A. Tuệ tri /
 B. Thức tri /
 C. Tưởng tri /
 D. Thọ tri (cảm giác)


ĐĐ Pháp Tín cho đáp án trắc nghiệm 3:A

Trắc nghiệm 4. Cái biết nào sau đây là sự cảm biến của tâm khi cảnh sanh khởi?
 A. Tuệ tri /
 B. Thức tri /
 C. Tưởng tri /
 D. Thọ tri (cảm giác)

ĐĐ Nguyên Thông cho đáp án trắc nghiệm 4 : D.