Monday, February 23, 2015

Bài học. Thứ Ba ngày 24-2-2015

KINH PHẬT TỰ THUYẾT - UDÀNA

Giảng Sư: TT Tuệ Quyền

CHƯƠNG 6 - PHẨM PHẨM SANH RA ÐÃ MÙ  
HT Minh Châu dịch Việt

(III) (Ud 65) - 3. KINH QUÁN XÉT LẠI


Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ Thế Tôn ngồi quán sát của pháp bất thiện của mình được trừ diệt, và các pháp thiện của mình được tu tập, làm cho tăng trưởng. Rồi Thế Tôn sau khi biết các pháp bất thiện của mình đã được trừ diệt và các pháp thiện của mình được tu tập, được làm cho sung mãn, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng này:

3. Trước có nay không có,
Trước không có nay có,
Ðã không và sẽ không,
Và nay hiện không có.


II. Thảo Luận:   TT Giác Đẳng điều hợp.
1. Trên phương diện Phật Giáo Nam Truyền trong sớ giải giải thích thêm về bài kệ hôm nay phải chăng trì trú bài kệ này sẽ vượt qua mọi khổ ách? - TT Tuệ Siêu
2. TT Pháp Đăng thảo luận câu hỏi số 1
3. TT Tuệ Quyền thảo luận câu hỏi số 2
4. TT Tuệ Siêu thảo luận câu hỏi số 3
5. TT Tuệ Siêu thảo luận câu hỏi số 4



 III. Đố Vui
Câu hỏi 1.  Trong trường hợp nào dưới đây hữu lý với "cái có"? 
a. Có bệnh. Nên thuốc có giá trị 
 b. Có thuốc. Thuốc luôn luôn có giá trị  
 c. Có đúng thuốc trị đúng bệnh 

  d. Có người chịu trả tiền thuốc

TT Pháp Đăng cho đáp án câu 1 là C

Câu hỏi 2. Trong trường hợp nào dưới đây hữu lý "cái không"?
 a. Không có nhà nên không cần quét nhà
  b. Chíếc bè không còn cần một khi đã qua sông
  c. Hạnh lành và phúc quả không cần thiết cho một bậc đã đoạn tận vô minh và ái 

  d. câu b và c đúng

TT Tuệ Quyền cho đáp án câu 2 là D

Câu hỏi 3. Khi Đức Phật dạy người tu tập quán sát "năm uẩn không phải là của ta, không phải là ta, không phải là tự ngã của ta"  thì ý nghĩa nào dưới đây đưc xem là tương thích?
 a. Đạo Phật là chủ nghĩa hư vô 
 b. Chấp thủ năm uẩn là đau khổ
 c. Sống sao cũng được vì tất cả đều là không 
d. câu a va b đúng

TT Tuệ Siêu cho đáp án câu hỏi số 3 là B


 Câu hỏi 4. Lời sau cùng của Đức Thế Tôn trước khi viên tịch là "Các pháp hữu vi là vô thường, các con hãy tinh tấn". Cảm nhận nào dưới đây là đúng với tinh thần câu Phật ngôn nầy?

 a. Không tinh tấn thì còn tiếp tục khổ bởi vì cái gì vô thường cái đó là khổ
b. Tinh tấn để chứng tri Niết bàn vì đó là sự vượt thoát các pháp hữu vi
c. Sự viên tịch của Đức Phật có thể là một tác động mạnh cho những ai muốn giải thoát trầm luân sanh tử
d. Cả ba câu trên đều đúng

TT Tuệ Siêu cho đáp án câu hỏi số 4 là D




Sunday, February 22, 2015

Bài học. Thứ Hai ngày 23-2-2015

KINH PHẬT TỰ THUYẾT - UDÀNA

Giảng Sư: TT Tuệ Siêu

CHƯƠNG 6 - PHẨM PHẨM SANH RA ÐÃ MÙ  
HT Minh Châu dịch Việt

(II) (Ud 64) 2. KINH ĐẠO SĨ TÓC BỆN

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, tại Ðông Viên, lâu đài mẹ của Migàra. Lúc bấy giờ Thế Tôn vào buổi chiều, từ độc cư thiền tịnh đứng dậy và đến ngồi tại một ngôi nhà nhỏ phía cửa ngoài.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Lúc bấy giờ bảy vị bện tóc, bảy vị Ni-kiền Tử, bảy vị lõa thể, bảy vị mặc một y và bảy vị du sĩ, với nách đầy lông, với móng tay dài, mang các dụng cụ khất sĩ, đã đi ngang qua Thế Tôn không xa bao nhiêu.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y một bên vai, quỳ xuống trên đầu gối tay mặt, chấp tay hướng về bảy vị bện tóc, bảy vị Ni-kiền Tử, bảy vị lõa thể, bảy vị mặc một y và bảy vị du sĩ ấy, nói lên ba lần tên của mình: "Thưa chư Tôn giả, con là vua Pasenadi nước Kosala!".

Rồi vua Pasenadi nước Kosala, khi bảy vị bện tóc, bảy vị Ni-kiền Tử, bảy vị Ni-kiền Tử, bảy vị lõa thể, bảy vị mặc một y, và bảy vị du sĩ ấy đã đi ngang qua không bao lâu, liền đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, có phải những Tôn giả ấy là những vị A-la-hán trên đời này, hay là những vị đang đi trên con đường hướng đến đạo quả A-la-hán?

- Thưa Ðại vương, khi Ðại vương còn là cư sĩ trong khi còn sống với gia đình, thọ hưởng dục lạc, bị vợ con trói buộc, quen dùng các loại chiên đàn ở xứ Kàsi, trang sức với vòng hoa, hương thơm, dầu sáp, thọ hưởng vàng và bạc thời Ðại vương thật khó biết được các vị ấy là bậc A-la-hán hay là bậc đang đi con đường hướng đến A-la-hán quả. Thưa Ðại vương, chính phải cộng trú mới biết được giới đức của một người và như vậy phải trong một thời gian dài không thể ít ngày được, phải có tác ý không phải không có tác ý; phải có trí tuệ không phải với ác tuệ. Thưa Ðại vương, chính phải có liên hệ mới biết được sự thanh liêm của một người, phải trong một thời gian dài không thể ít ngày được, phải có tác ý, không phải không có tác ý, phải có trí tuệ không phải với ác tuệ. Thưa Ðại vương, chính trong thời gian bất hạnh biết được sự trung kiên của một người, phải trong một thời gian dài không thể ít ngày được; phải có tác ý, không phải không tác ý; phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ. Thưa Ðại vương, chính phải đàm luận biết được trí tuệ của một người, và như vậy phải trong một thời gian dài không thể ít ngày được; phải có tác ý, không phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.

- Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn, khi Thế Tôn đã khéo nói như sau: "Thưa Ðại vương, khi Ðại vương còn là cư sĩ... không phải với ác tuệ". Bạch Thế Tôn, có những trinh thám này của con những người trinh sát sau khi đi trinh sát mặt nước, chúng đến con. Trước hết họ báo cáo rồi con mới đúc kết. Bạch Thế Tôn, ở đây những người ấy sau khi tẩy sạch bụi và nhớp, sau khi tắm rửa và xoa dầu, sau khi chải sạch râu tóc, mặc áo vải trắng, chúng được hầu hạ săn sóc và cho thọ hưởng năm dục công đức.

Rồi Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên bài kệ này:

2. Phải siêng năng cố gắng,
Tại bất cứ chỗ nào,
Chớ trở thành là người
Thuộc vào con người khác,
Chớ có sống ỷ lại,
Nương tựa vào ngưòi khác,
Chớ sống nghề buôn bán,
Ðem pháp để kiếm lời.


II. Thảo Luận:   TT Giác Đẳng điều hợp.
1. TT Tuệ Quyền thảo luận câu hỏi số 1
2. ĐĐ Pháp Tín thảo luận câu hỏi số 2
3. TT Pháp Đăng thảo luận câu hỏi số 3
4. TT Tuệ Siêu thảo luận câu hỏi số 4
5. TT Tuệ Quyền thảo luận câu hỏi số 5
6. TT Pháp Đăng thảo luận câu hỏi số 6
7. TT Giác Đẳng thảo luận câu hỏi số 7



 III. Đố Vui
Câu hỏi 1. Tại sao chúng ta thường hời hợt trong cách nhận định về người khác? 
a. Vì thiếu khả năng chuyên môn để đánh giá 
 b. Không đủ thời gian để lượng định
 c. Không thu thập đủ dữ kiện để kết luận
 d. Cả ba câu trên

TT Tu Quyn cho đáp án câu  1 là D

Câu hỏi 2. Trong Trung Bộ Kinh có Phật ngôn: Chỉ khi nào vị tỳ kheo thiếu thốn những nhu yếu mà vẫn kiên tâm tu tập thì Như Lai mới gọi là vị có giới hạnh và chánh trí. Ý nghĩa nào dưới đây tương ưng với lời dạy đó: 
a. Đi tu mà chưa trải qua ách nạn thì chưa gọi là tu
 b. Phải thân cận lâu ngày trãi qua nhiều hoàn cảnh mới biết được thực chất giới đức của một người 
 c. Tu thì phải khổ mới đúng là tu  
 d. Không nên tin tưởng vào những người tu hành trừ khi thấy họ đã trãi qua nhiều thử thách

ĐĐ Pháp Tín cho đáp án câu 2 là B

 Câu hỏi 3. Tại sao có liên hệ mới biết sự thanh liêm thật sự một người? 
a. Không qua lại thì khó biết một người ưa vụ lợi 
 b. Có những tham ô mà người ngoại cuộc khó biết 
 c. Lấy lửa thử vàng, lấy vàng thử lòng người 
 d. Cả ba câu trên đều đúng

TT PháĐăng cho đáp án câu số 3 là

Câu hỏi 4. Câu "trong hoạn nạn mới biết ai là người kiên trung" cho chúng ta những điểm hợp lý sau đây: 
a. Phần đông "phù thịnh không phù suy 
 b. Người người thật sự trung kiên thường ít phô trương
 c. Hai câu trên đều đúng 
 d. Hai câu trên đều sai 

TT Tu Siêu cho đáp án câu 4 là C

Câu hỏi 5. Tại sao đàm luận biểu lộ trí tuệ của người thông minh?
 a. Có đàm luận mới có mổ xẻ 
 b. Có đàm luận mới có tỷ giảo 
 c. Có đàm luận mới nhìn vấn đề khách quan hơn 
 d. cả ba câu trên đều đúng

TT Tu Quyn cho đáp án câu 5 là D

Câu hỏi số 6. Câu nào dưới đây đồng nghĩa với hiện tượng 'tu giả hiệu":
 a. Buôn thần bán thánh 
 b. Treo đầu heo bán thịt chó  
c. Chiếc áo không làm nên thầy tu  
 d. Câu a và b đúng

TT PháĐăng cho đáp án câu 6 là D

câu hỏi 7. Chi tiết nào dưới dây đúng về vua Pasenadi (Ba tư nặc)?
a. Trị vì vương quốc Kosala (Kiều Tát La)
 b. Sẽ là một trong 10 vị Phật toàn giác đương lai
 c. Có kinh đô là thành Thất La Phiệt
 d. Cả ba câu trên đều đúng

TT GiáĐẳng cho đáp án câu số  là D


Saturday, February 21, 2015

Bài học. Chủ Nhật ngày 22-2-2015

KINH PHẬT TỰ THUYẾT - UDÀNA

Giảng Sư: TT Giác Đẳng

CHƯƠNG 6 - PHẨM Phẩm Sanh Ra Ðã Mù  
HT Minh Châu dịch Việt

(I) (Ud 62) 1. KINH BUÔNG BỎ THỌ HÀNH

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli tại Ðại Lâm chỗ ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, đắp y, cầm bát, đi vào Vesàli để khất thực. Khất thực ở Vesàli xong, sau buổi ăn, khi đi khất thực trở về, Thế Tôn gọi Tôn giả Ananda:

- Này Ananda, hãy cầm tọa cụ, Ta sẽ đi đến điện Càpàla để nghỉ ban ngày.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, cầm tọa cụ và đi sau lưng Thế Tôn. Thế Tôn đi đến đền Càpàla, khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

- Này Ananda, khả ái thay Vesàli! Khả ái thay Vesàli! Khả ái thay đền Udena! Khả ái thay đền Gotamaka! Khả ái thay đền Sattambaka! Khả ái thay đền Bahuputta! Khả ái thay đền Sàrandada! Khả ái thay đền Càpàla!

Này Ananda, những ai đã tụ tập Bốn như ý túc, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, được an trú, tích lũy, khéo thực hành, nếu muốn, người ấy có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu tập Bốn như ý túc, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, được an trú, tích lũy, khéo thực hành. Này Ananda, nếu muốn Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần còn lại!

Nhưng Tôn giả Ananda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn, không thỉnh cầu Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp! Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người". Vì tâm Tôn giả bị Ma vương ám ảnh. Lần thứ hai... Lần thứ ba Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda: "Này Ananda, khả ái thay Vesàli! Khả ái thay đền Udena! Khả ái thay đền Gotamaka! Khả ái thay đền Sattambaka! Khả ái thay đền Bahyputta! Khả ái thay đền Sàrandada! Khả ái thay đền Càpàla!... " Nhưng Tôn giả Ananda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn, không thỉnh cầu Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp! Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người!". Vì tâm Tôn giả bị Ma vương ám ảnh. Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

- Này Ananda, hãy đi và làm những gì Thầy nghĩ là hợp thời!.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ngồi xuống một gốc cây không xa bao nhiêu.

Tôn giả Ananda ra đi không bao lâu, Ác ma đi đến Thế Tôn, sau khi đến liền đứng một bên. Ðứng một bên, Ác ma nói với Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ! Thiện thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đấy là lời Thế Tôn đã nói:

- Này Ác ma, Ta sẽ chưa diệt độ, khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành những đệ tử có tài năng được huấn luyện, đạt được tự tín, an ổn khỏi các khổ ách, nghe nhiều, trì pháp, thực hành Chánh pháp và tuỳ pháp, sống chánh hạnh, sống tùy pháp, sau khi học hỏi giáo lý từ Thầy của mình; khi nào họ chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai mở, phân tích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, họ chưa có thể, sau khi chất vấn, khéo hàng phục một cách đúng pháp, chưa có thể thuyết pháp thần diệu.

- Bạch Thế Tôn, nay có những Tỷ-kheo, đệ tử của Thế Tôn có tài năng, được huấn luyện, đạt được tự tín, an ổn khỏi các khổ ách, nghe nhiều, trì pháp, thực hành Chánh pháp và tùy pháp, sống chánh hạnh, sống tùy pháp; sau khi học hỏi giáo lý từ Thầy của mình, họ tuyên bố diễn giảng trình bày, xác định, khai mở, phân tích và giải thích rõ ràng Chánh pháp. Khi có tà đạo khởi lên, sau khi chất vấn, họ khéo hàng phục một cách đúng pháp, thuyết pháp thần diệu. Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ; Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói.

- Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta... Những nam cư sĩ của Ta... Những nữ cư sĩ của Ta chưa trở thành những đệ tử có tài năng... chưa có thể thuyết pháp thần diệu.

- Bạch Thế Tôn, nay có những Tỷ-kheo ni... Những nam cư sĩ... Những nữ cư sĩ đệ tử của Thế Tôn có tài năng, được huấn luyện, đạt được tự tín... có thể thuyết pháp thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ! Bạch Thế Tôn,nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ! Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói.

- Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào Phạm hạnh Ta giảng dạy chưa được thành tựu, thành đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy, cho chư Thiên và loài Người.

- Bạch Thế Tôn, nay Phạm hạnh Thế Tôn giảng dạy đã được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa được khéo giảng dạy cho chư Thiên và loài Người. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ; Thiện Thệ hãy diệt độ! Bạch Thế Tôn! Nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ! Khi được nói vậy, Thế Tôn nói với Ác ma:

- Này Ác ma, hãy yên tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ.

Và tại đền Càpàla, Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, từ bỏ thọ hành, không duy trì mạng sống lâu hơn nữa. Khi Thế Tôn từ bỏ thọ hành, thời đại địa chấn động, ghê rợn, lông tóc dựng ngược, sấm trời vang dậy.

Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

1. Bậc ẩn sĩ từ bỏ,
Các hành động sanh hữu,
Sanh hữu có cân lượng,
Sanh hữu không cân lượng,
Ưa thích hướng nội tâm,
Thật định tỉnh an tịnh,
Phá đổ ngã sanh hữu,
Như cởi thoát áo giáp.


II. Thảo Luận:   TT Giác Đẳng điều hợp.



 III. Đố Vui

Friday, February 20, 2015

Bài học. Thứ Bảy ngày 21-2-2015

KINH PHẬT TỰ THUYẾT - UDÀNA

Giảng Sư: ĐĐ Tuệ Nhẫn

CHƯƠNG 5 -PHẨM BỐN - PHẨM TRƯỞNG LÃO SONA  
HT Minh Châu dịch Việt

(X) (Ud 61) - 10. KINH PANTHAKA

Như vầy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Cùlapanthaka ngồi không xa Thế Tôn bao nhiêu, ngồi kiết già, lưng thẳng để niệm trước mặt. Thế Tôn thấy Tôn giả Cùlapanthaka ngồi không xa bao nhiêu, ngồi kiết già, lưng thẳng để niệm trước mặt.

Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

10. Với thân, tâm an trú,
Ðứng, ngồi hay nằm xuống,
Tỷ-kheo an trú niệm,
Trước sau được thù thắng,
Trước sau được thù thắng,
Vượt tầm mắt ác ma.


II. Thảo Luận:   TT Giác Đẳng điều hợp.
1. TT Tuệ Quyền thảo luận câu hỏi 1
2. ĐĐ Pháp Tín thảo luận câu hỏi 2
3. TT Pháp Đăng thảo luận câu hỏi 3
4. ĐĐ Pháp Tín thảo luận câu hỏi 4
5 TT Pháp Đăng thảo luận câu 5



 III. Đố Vui
Câu hỏi 1. Điều nào dưới đây là đặc tính của chánh niệm (sati)? 
a. Tỉnh táo 
 b. Lập đi lập lại danh hiệu Phật 
 c. Hướng sự chú ý vào đề mục niệm 

 d. Câu a va c đúng

TT Tuệ Quyền cho đáp án câu 1 là D

Câu hỏi 2. Nếu không có chánh niệm thì tâm của chúng sanh ra sao?
 a. suy nghĩ mông lung 
 b. Thường bị phiền não chiếm ngự
 c. Không tỉnh táo nhận rõ những gì đang xẩy ra 
 d. Cả ba điều trên

ĐĐ Pháp Tín cho đáp án câu 2 là D

Câu hỏi 3.  Ngài Culapanthaka được biết với một số chi tiết sau: 
a. Vốn là người học rất chậm hiểu và thiếu trí nhớ 
 b. Được biết trong chữ Hán là tôn giả Bàn Đặc 
 c. Là vị có thần thông biến hiện nhiều thân 
 d. Cả ba câu trên đều đúng

TT Pháp Đăng cho đáp án câu 3 là C

Câu hỏi 4. Thần chết (Maccuràja) được đề cập trong kinh được hiểu là:
 a. Một chúng sanh có nhiều uy lực 
 b. Quỷ sứ /
 c. Người giữ sổ sách về thọ mạng chúng sanh 
 d.Ba  câu trên đều sai

ĐĐ Pháp Tín cho đáp án câu 4 là D

Câu hỏi 5. Điều nào dưới đây là tác dụng của chánh niệm? 
a. Giúp hành gỉả không hành động theo thói quen cố hữu 
 b. Nhận thức được bản chất sanh diệt của thân tâm
 c. Tỉnh táo với những gì đang xẩy ra nơi thân tâm
 d. Cả ba câu trên đều đúng

TT Pháp Đăng cho đáp án câu 5 là D

Thursday, February 19, 2015

Bài học. Thứ Sáu ngày 20-2-2015

KINH PHẬT TỰ THUYẾT - UDÀNA

Giảng Sư: ĐĐ Pháp Tín

CHƯƠNG 5 -PHẨM BỐN - PHẨM TRƯỞNG LÃO SONA  
HT Minh Châu dịch Việt

(IX) (Ud 60) 9. Sadhāyamānasuttaṃ .KINH NHẠO BÁNG

Như vậy tôi nghe:

Một thời Thế Tôn bộ hành giữa dân chúng Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo. Lúc bấy giờ, nhiều thanh niên Bà-la-môn, không xa Thế Tôn bao nhiêu, dùng những lời nhiếc mắng vượt đà quá xa. Thế Tôn thấy nhiều thanh niên, không xa bao nhiêu, dùng những lời nhiếc mắng, vượt đà quá xa.

Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy, nói lên lời cảm hứng:

9. Lời nói của kẻ trí,
Khi bối rối luống cuống,
Rơi vào nhiều đề tài,
Nhiều lãnh vực sai khác,
Họ muốn miệng mở rộng,
Cái gì dắt dẫn họ,
Họ đâu có biết rõ.

II. Thảo Luận:   TT Giác Đẳng điều hợp.
1. TT Tuệ Siêu ban đạo từ nhân ngày đầu xuân
2. TT Tuệ Siêu thảo luận câu hỏi 1
3. ĐĐ Pháp Tin thảo luận câu hỏi 2



 III. Đố Vui
Câu hỏi 1. Người ta thường nói "hát hay không bằng hay hát" nhưng tại sao không nói "nói hay không bằng hay nói"? .
 a. Có những thứ nên khuyến khích nhưng lắm lời thì không nên. 
 b. "Dù nói ngàn lời vô ích không bằng nói một câu nghe xong được tịnh lạc. 
 c. Nói huyên thuyên không giúp trau dồi khả năng giao tiếp. 
 d. Cả ba câu trên đều đúng.


TT Tuệ Siêu: Câu 1 Đáp án D

Câu hỏi 2. Điều nào dưới đây giúp chúng ta nói năng chừng mực? 
a. Ý thức không làm phiền người khác.
 b. Không muốn hoang phí thì giờ quý báu. 
c. Thường tự nhắc "nói phù phiếm là một trong mười bất thiện nghiệp".
 d. Cả ba điều trên đều dúng


 TT Tuệ Siêu đáp án câu 2 D

Câu hỏi 3. Những lời chúc tết hay nói xã giao có xem là phù phiếm chăng?
 a. Đúng vậy vì nói bao nhiêu cũng chỉ là "nói cho có nói". 
 b. Dù là phong tục hay xã giao cũng có lý do cần thiết nên không thể gọi là phù phiếm. 
 c. Người cư sĩ thì nên, các vị xuất gia thì đừng. 

 d. Những lời cầu chúc hay nguyền rủa đều có kết quả

TT Giác Đẳng đáp án câu 3 là B